Trang chủ Ngữ văn Lớp 8 viết bài văn phân tích tác phẩm thu điếu câu...

viết bài văn phân tích tác phẩm thu điếu câu hỏi 6355705

Câu hỏi :

viết bài văn phân tích tác phẩm thu điếu

Lời giải 1 :

Đáp án:

Giải thích các bước giải:

Trời vào thu với màu sắc thê lương ảm đạm, với gió heo may se sắt lạnh lùng và những chiếc lá vàng nhẹ rơi bỏ lại thân cây trơ trọi, não nề. Mùa thu có lẽ làm cho người ta bâng khuâng hoài cảm nhiều nhất và là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ.

Quay ngược bánh xe lịch sử ta sẽ bắt gặp những mùa thu tuyệt vời ngập tràn trong những trang thơ của bao thế hệ. Nhắc đến mùa thu không thế không nhắc đến “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến – một bức tranh mùa thu mà Xuân Diệu đã từng nhận xét: “Là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”.

Tiếp xúc với bài thơ điều đầu tiên cho ta ấn tượng là mật độ xuất hiện vần “eo” trong bài thơ. Chúng ta hãy đếm xem: có tất cả bảy tiếng sử dụng vần “eo”. Nếu để ý khảo sát trong tiếng Việt thì ta sẽ phát hiện ra một điều thú vị là vần “eo” trong ngôn ngữ của ta thường làm cho không gian, sự vật bị dồn nén, co lại, kết tinh lại trong cái khuôn khổ nhỏ nhất của nó.

Trời thu đã mang sẵn cái khí lạnh trong nó lại càng lạnh thêm trong cái từ “lạnh lẽo” ấy. Nước hồ thu đã trong rồi nay lại càng trong thêm nữa bởi từ “trong veo”. Khoảng trống rộng lớn làm cho chiếc thuyền câu nhỏ bé lại càng nhỏ bé thêm khi nó được tác giả thấy rằng “bé tẻo teo”. Hình ảnh “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” làm chúng ta chợt nhớ đến hai câu thơ của Trần Đăng Khoa:

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

Trở về câu thơ của Nguyễn Khuyến động từ “vèo” gợi cảm giác rơi nghiêng của lá. “Khẽ đưa vèo” câu thơ có cấu trúc động từ thật là lạ, làm cho ta thấy dường như tiếng rơi ấy nó không là hiện thực mà nó đang diễn ra trong tâm thức của nhà thơ. Chiếc lá ấy của nhà thơ làng Yên Đỗ và Trần Đăng Khoa như là ảo ảnh. Trong cái ảo ảnh đó, người đọc và cả tác giả dường như không kiểm soát kịp nó có thật hay không nữa.

Bức tranh mùa thu đến đây khẽ lay động dưới nét phát họa của nhà thơ.Qua hai câu đề của bài thơ bức tranh mùa thu không được đặt trong không gian rộng lớn như ở “Thu vịnh” mà nó bị giới hạn lại trong cái phạm vi nhỏ bé của “ao thu”. “Ao thu” hai tiếng ấy có vẻ gì đó là lạ, đặc thù. Hình ảnh “ao thu” như muốn chứng minh sự nhỏ bé khác thường của nó.Toàn bộ khung ảnh được vẽ lên như một bức tranh tí hon có thể đặt trọn trong lòng bàn tay ta vậy.

Nó có một cái gì đó ngồ ngộ, dễ thương và cuốn hút lạ thường. Nó thu tóm toàn bộ không gian, làng cảnh Việt Nam im lìm, vắng lặng nhưng lại ẩn chứa một sức sống mãnh liệt.Đến đây không gian được mở rộng ra, nhà thơ đã di chuyển điểm nhìn từ không gian nhỏ bé của “ao thu” hướng về không gian lớn của bầu trời. Ở đấy nhà thơ bắt gặp:“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”.

Cái động từ “lơ lửng” như gợi cho ta một cảm giác về một chuyển động mà ngỡ như là đứng yên. Những đám mây mùa thu như khẽ nhích từng tí một, bồng bềnh trong bầu trời thu xanh ngắt. Cái chuyển động của chiếc thuyền câu cũng vậy, nó như hơi khẽ lắc trong sóng nước mùa thu.Trở lại câu thơ: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí”.

Ta thấy nó có một cái gì đó dễ gây ấn tượng. Chữ “làn” xuất hiện làm cho cảnh vật nó như mơ hồ, khó mà nắm bắt được. “Hơi gợn tí” nó gợi lên trước mắt chúng ta một hình dáng của sóng. Nó không ồn ào dữ dội như sóng biển mà có nó lăn tăn lan ra trên mặt hồ. Bức tranh mùa thu như trầm mình trong cái yên ả, tĩnh mịch ấy.Có một câu châm ngôn cho rằng: không có một vẻ đẹp xuất sắc nào mà không mang đôi nét kì quặc. Cho nên câu thơ: "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo".

Tuy gợi cho ta cảm giác rờn rợn da thịt nhưng bức tranh mùa thu ở đây vẫn có một nét đẹp rất nên thơ, bình yên và trong sáng. Con người nhà thơ ở đây có phần nào lộ diện hơn:

"Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo"

Thế câu "Tựa gối ôm cần" thật lạ. Nó như thú nhận rằng nhà thơ đang lo nghĩ về một việc gì đó rất dữ dội, nó như đang giằng xé lấy ông. Phải chăng đó chính là nỗi buồn thời cuộc, nỗi buồn mà đến cuối đời nhà thơ vẫn không nguôi ngoai được phần nào.

Kết thúc bài thơ cảnh vật mùa thu im lìm như bị đánh thức dậy trước cái âm thanh bật hơi thật mạnh của cụm từ "đâu đớp động". Tạo ra một nét đối nghịch trong bài thơ: Cảnh vật ở trên được miêu tả là một bức tranh tĩnh lặng đến hoang vắng thì đến cuối bài thơ nó như bắt đầu tiếp nhận được sức sống, bức tranh như sinh động hẳn lên. Nhưng nó lại cũng khiến cho bài thơ im ắng vô cùng.

Ba tiếng "đâu đớp động" chõi lên một chút rồi lại đè xuống dưới sự áp chế mãnh liệt của vần "eo". Cách sử dụng nghệ thuật, dùng cái động để diễn tả cái tĩnh làm cho cảnh vật trong bài thơ càng vắng lặng hơn, nỗi buồn như bao trùm cả một khung cảnh rộng lớn. Bài thơ còn mang trong nó một sắc điệu xanh sắc xanh của mây trời, của lá cây, của nước mùa thu.

Tất cả như hòa quyện vào nhau làm cho bài thơ tạo nên một bức tranh hài hòa cân đối, có một màu sắc rất riêng của Việt Nam. Một chiếc lá vàng đâm ngang tô thêm cho bức tranh mùa thu một vẻ đẹp mới lạ. Đọc "Câu cá mùa thu" ta càng yêu thêm non sông xứ sở đất Việt này.

Bức tranh mùa thu đậm chất vẻ đẹp thiên nhiên của Việt Nam trong bao biến động xô bồ của cuộc đời này. Có cần chăng nhiều lúc lòng chúng ta nên lắng lại để thưởng thức "Thu điếu" để thanh lọc lại hồn mình, để yêu quê hương đất nước, yêu tiếng Việt trong sáng và giàu đẹp này hơn nữa ...

Bài đây nhé bn

@Blizzard

Lời giải 2 :

Nguyễn Khuyến nổi tiếng với tập thơ mùa thu gồm ba bài thơ bằng chữ Nôm, một trong số đó là bài “Câu cá mùa thu”. Xuyên suốt bài thơ là vẻ đẹp tĩnh lặng của cảnh quê xưa, thể hiện nét cô đơn trong tâm hồn của một nhà Nho yêu quê hương lúc bấy giờ. Sau một thời gian ông từ quan trở về, hàng loạt tác phẩm ra đời như “ Thu điếu”, “ Thu ẩm” , “ Thu vịnh”. Với kết câu thơ thất ngôn bát cú, bài thơ mở đầu với hai câu đề:

“ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

Chỉ cần đọc hai câu thơ, ta có thể hình dung ra khung cảnh mùa thu, một không gian nghệ thuật bao trùm lấy ta. Ao thu là một hình tượng đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi khi nhìn thấy ao làng, lòng người lại bồi hồi nhớ về quê hương. Nước ao trong vắt giúp ta có thể nhìn xuyên qua mặt ao, hơi lạnh đang lan tỏa khắp không gian. Không còn cái se lạnh của chớm thu mà đã là tiết thu phân, trời đã sang thu nên se lạnh đến nao lòng. Không biết từ lúc nào, giữa không gian bao la của mặt nước ao hiện ra một chiếc thuyền câu như thể nỗi cô đơn của con thuyền lan tỏa khắp không gian. "Bé tẻo teo" có nghĩa là rất nhỏ, cách sử dụng tính từ như khiến sự bé bỏng của chiếc thuyền càng thêm cô đơn, nhỏ nhoi. Âm điệu của bài thơ cũng gợi lên sự hun hút của cảnh vật quanh ao ("trong veo" - "bé tẻo teo"). Đó là một mùa thu đẹp và yên bình, làm bản lề cho thế giới nghệ thuật mà người đọc sắp sửa bước vào từ hai câu thực:

“ Sóng nước theo làn hơi gợn tí 

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Hai câu thơ miêu tả cảnh vật xung quanh trong một không gian hai chiều mà mắt có thể nhìn thấy sóng gợn li ti, tai có thể nghe thấy tiếng lá xào xạc trong gió. Sự rung cảm trước cảnh vật của người thi sĩ vô cùng giản dị và mộc mạc nhưng cũng có thể cho người ta thấy sự hài hòa về màu sắc được tác giả miêu tả với sóng xanh và lá vàng. Làn gió hiu hiu đủ để lay nhẹ những chiếc lá thu vàng, cuốn những con sóng xanh lăn tăn từng đợt. Trong câu thơ chỉ vỏn vẹn 7 chữ của mình, nhà thơ còn kết hợp sử dụng phép tương phản một cách rất tài tình giúp nhấn mạnh vào trọng tâm để người đọc có thể hình dung ra không gian mà tác giả đang miêu tả như hiện ra trước mắt mình, rất chân thực và rõ ràng. Phải công nhận rằng ngòi bút của Nguyễn Khuyến vô cùng tinh tế trong cách dùng từ và cảm nhận,  lấy cái lăn tăn của sóng "hơi gợn tí" phối cảnh với độ bay xoay xoay "khẽ đưa vèo" của chiếc lá thu. Chữ "vèo" là một nhân tự mà sau này thi sĩ Tản Đà rất khâm phục và tâm đắc. Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: vèo trông lá rụng đầy sân (cảm thu, tiễn thu). Không dừng lại ở đó, Nguyễn Khuyến còn giúp ta mở rộng tầm mắt hơn ở hai câu luận của bài thơ:

 “ Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Bên cạnh ao thu hoài niềm, ngõ trúc lại một lần nữa khắc khoải nỗi niềm của làng quê nơi tác giả, nơi khung cảnh. Một màu xanh bao la của bầu trời xanh, rộng lớn và xanh thẳm, hòa quyện với màu xanh của sóng nước bao trùm không gian nơi đây. Mây lặng lẽ trôi trên bầu trời bao la như nhấn mạnh thêm sự bao la của không gian nơi đây. Thoáng mát, yên tĩnh, êm đềm và mềm mại. Đường làng qua các ngõ không một bóng người qua lại: Ngõ trúc quanh co vắng vẻ không bóng người. "Vắng teo" là một tính từ giản dị, gần gũi, đời thường tưởng chừng vô vị nhưng lại được biến hóa khôn lường trong thơ của Nguyễn Khuyến. Nó gợi cho người ta cái yên lặng vô cùng của cảnh vật, lại cũng gợi sự cô đơn, trống trải của lòng người. Ngõ trúc trong thơ Tam Nguyên Yên Đổ luôn gợi lên một nỗi niềm da diết, không thể chối từ về tình quê:

 Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy

Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?

(Nhớ núi Đọi)

Trong thơ về tình làng quên, có lẽ người đọc sẽ nhận ra một trong những sự vật quen thuộc với hình ảnh làng quê đó là ngõ trúc và tầng mây. Đây là nhưng sự vật từng xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn thơ nghệ thuật. Có vẻ như tác giả đang tự hòa mình và đắm chìm vào trong cảnh sắc nơi đây nên mới có thể miêu tả một cách vô cùng chân thực được như vậy. Đến hai câu kết thì bức tranh thu mới xuất hiện một đối tượng khác:

 “ Tựa gối ôm cần lâu chẳng được 

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Thu điếu nghĩa là câu cá vào mùa thu. Sáu câu đầu chỉ có cảnh sắc: ao thu, thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc … Hình ảnh người câu cá đến tận đoạn cuối cùng mới hiện lên với tư thế tựa vào chiếc gối, trấn tĩnh và nhàn nhã. Đợi một lúc lâu, tác giả chợt tỉnh giấc khi nghe tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo. Sự chờ đợi bấy lâu nay đã được đền đáp phần nào. Người câu cá dường như thờ ơ với mọi phiền nhiễu, chỉ tập trung hòa mình vào cảnh sắc mùa thu, bỗng chợt tỉnh giấc mộng của mình để quay về hiện thực. Nhưng không! Nguyễn Khuyến đâu có còn chờ thời. Khi thả hồn ngồi chờ câ cá, nhà thờ đã chỉ muốn hòa mình vào thiên cảm nhận được hết không khí ở chính nơi thôn quê mình đang sinh sống. Có thể thấy, toàn bộ hình tượng thơ “Thu điếu” đã sửa soạn cho thái độ này. 

Ba chữ “đ” (đâu, đớp, dộng) miêu tả một chút xao động trong làn ao và rất nhiều xao động trong lòng thật là tài tình khiến cho người khác phải ngã mũ thán phục. Kết hợp nghệ thuật lấy động tả tĩnh như khiến mạch suy nghĩ của nhân vật lại càng thêm khắc khoải vì luyến tiếc. Ngụ ý của câu thơ muốn ta hiểu được cái cảm giác nao nòng của người câu cá khi đi câu mà lòng lại xao xuyến không nguôi vì cảnh vật. Người đọc liên tưởng đến một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị cách đây mấy nghìn năm. Sau tiếng lá thu chỉ còn một tiếng cá đập, đó là tiếng thu của làng cũ. Âm thanh ấy hòa với âm thanh trong không trung, như đưa hồn ta về với mùa thu của quê hương. Người đánh cá sống trong một tâm trạng buồn cô đơn và lặng lẽ. Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao đáng quý.

Thu Điếu là một trong những tác phẩm lớn của tác giả Nguyễn Khuyến. Xuân Diệu từng tâm sự rằng ở bài thơ của Nguyễn Khuyến có một nét xanh tuyệt vời mà miêu tả không thể hiểu hết vẻ đẹp, sự tinh túy. Nào là xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh trúc, xanh tre, bèo… và chỉ có một màu vàng của những chiếc lá mùa thu "khẽ đưa vèo". Tuy nhiên, ẩn sâu dưới đáy khoảng lặng này lại ẩn chứa một nỗi buồn miên man của tác giả. Tâm hồn thư thái, quý phái gắn bó với mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết. Mỗi nét của mùa thu là một màu thu, âm thanh của mùa thu gợi lên hồn quê tiết trời thu, vần: veo - teo - vo - teo - bèo, tương phản tạo nên sự hài hòa cân đối, giàu sức biểu lộ lại tạo nhạc điệu thơ nhẹ nhàng, trầm bổng. .thể hiện một phong cách nghệ thuật vô cùng điêu luyện và hồn nhiên - thực sự xuất sắc trong các chương. Thu điếu lá xứng đáng là một tác phẩm tả cảnh ngụ tình tiêu biểu xuất sắc trong chương trình ngữ văn lớp 11.

Bạn có biết?

Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!

Nguồn :

TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT

Tâm sự lớp 8

Lớp 8 - Năm thứ ba ở cấp trung học cơ sở, học tập bắt đầu nặng dần và sang năm lại là năm cuối cấp, áp lực lớn dần. Hãy chú ý đến sức khỏe, cân bằng giữa học và nghỉ ngơi để đạt hiệu quả tốt nhất!

Nguồn :

sưu tập

Liên hệ hợp tác hoặc quảng cáo: gmail

Điều khoản dịch vụ

Copyright © 2021 HOCTAPSGK