Trang chủ Ngữ văn Lớp 8 Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học...

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật) *m.n phân tích cho e 2 bài thơ Thu Điếu (Nguyễn Khuyế

Câu hỏi :

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật)

*m.n phân tích cho e 2 bài thơ Thu Điếu (Nguyễn Khuyến) và Qua đèo ngang (Bà Huyện Thanh Quan)

dc tham khảo trên gg nhưg kh dc chép hoàn toàn ạ

Lời giải 1 :

Thu điếu

  Nguyến Khuyến là nhà thơ viết nhiều bài thơ đặc sắc về quê hương, làng cảnh, thiên nhiên. Trong số đó, có chùm thơ thu khá nổi tiếng, bao gồm: Thu điếu (Câu các mùa thu), Thu vịnh (Vịnh mùa thu), Thu ẩm (Uống rượu mùa thu). Mỗi bài có một cái hay riêng, Thu điếu (Câu cá mùa thu) thể hiện tấm lòng tìm về nơi trong sạch, yên tĩnh.

  Mở đầu bài thơ, tác giả đã cho thấy một cảnh câu cá với ao thu và thuyền câu:

          Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

          Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. 

  Nhưng cái đáng chú ý trong cảnh này là không khí "lạnh lẽo" của mùa thu và làn nước "trong veo", còn chiếc thuyền câu thì "bé tẻo teo". Cả ao và thuyền như chỉ gợi ra cảnh câu cá, đúng hơn là một biểu trưng câu cá, tựa như cảnh câu cá xinh xắn giữa một hòn non bộ nào đó. Nghĩa là nước trong, thuyền bé, gợi ra một cái thú chơi thanh tao, thoát tục, chứ không phải cuộc làm ăn kiêm lợi.

  Phong cảnh ao thu thật tươi tắn và yên tĩnh:

          Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

          Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

  "Sóng biếc" tương phản với "Lá vàng" làm cho màu sắc sáng tươi, nổi bật, mĩ lệ. Nhưng đáng chú ý hơn là không khí vắng lặng ngự trị cả không gian. Sóng biếc theo làn gió nhẹ chỉ hơi gợn một tí, một cái gợn rất mơ hồ, phải chú ý lắm mới thấy rõ. Có lẽ do thuyền câu bất động. Còn chiếc lá vàng rơi vừa khẽ, vừa nhanh ("khẽ đưa vèo"), không gây được một xao động nhỏ nào trong cái tĩnh mịch xung quanh.

          Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

          Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

  "Tầng mây lơ lửng" ở giữa trời, chứng tỏ trời trong xanh, cao vút thăm thẳm như mở ra vô tận. "Ngõ trúc quanh co", chứng tỏ ngõ dài, uốn khúc, có chiều sâu, và vẫn "vắng teo". Cả hai chiều không gian cao, rộng đều vắng lặng hầu như tuyệt đối. "Khách" là người khác, đối lại với chủ. "Khách vắng teo" là biểu trưng cho khung cảnh thanh tao, thoát tục như trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao". "Khách vắng teo" chứng tỏ ông câu cá hình như hoàn toàn làm chủ khung cảnh nên thơ, vắng lặng của mình.

  Biết bao thời gian đã trôi qua trong cảnh câu ấy? Có lẽ là rất lâu. Tư thế ngồi của ông câu cũng bất động. Nhưng không hẳn:

          Tựa gối ôm cần, lâu chẳng được,

  Mấy chữ "lâu chẳng được" nói lên rằng không thể được lâu. Bởi vì:

          Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

  Có người hiểu câu kết là: "Cá đâu như đang đớp động dưới chân bèo". Lại có người hiểu: "Cá đâu có đớp động dưới chân bèo". Có lẽ cách hiểu đúng hơn là cá đớp động dưới chân bèo làm ông không yên. Tại sao đi câu mà lại không thích cá đớp mồi, chỉ thích được tựa gối ôm cần ngồi thật lâu?

  Nguyên người xưa có kẻ lấy câu cá làm việc đợi thời, đợi người xứng đáng để ra giúp nước, như La Vong đời nhà Chu buông câu bên dòng Vị Thuỷ, gặp Văn Vương và ra phò tá, Nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường có câu thơ: "Câu người, không câu cá, Bảy mươi gặp Văn Vương" ("Điếu nhân bất điếu ngư, Thất thập đắc Văn Vương"). Đời nhà Hán, Nghiêm Tử Lăng cũng lấy việc đi câu để từ chối việc làm quan với nhà Hán. Nhà thơ Lục Du đời Tống có câu: "Nghiêm Quang câu lười tuy quên hết điều lo nghĩ. Từ bỏ giang sơn mọi sự đều mới mẻ" ("Nghiêm Quang điếu lãn tuy vong dạng, Trừ khước giang sơn vạn sự tân"). Trong bài thơ Đề canh ấn đường của Từ Trọng Phủ) của Nguyễn Trãi cũng có câu: "Thương ta lâu nay bị cái mũ nhà nho làm hỏng việc, Vốn ta là người chỉ ưa cày nhàn câu quạnh thôi" ("Ta dư cửu bị nho quan ngộ, Bản thị canh nhàn điếu tịch nhân"). Nguyễn Trãi cũng là người thích cày nhàn, câu quạnh. Sát nhất có lẽ là tích Trang Tử câu cá ở Phác Thuỷ, Sở Vương cho hai đại thần đến mời ông ra làm quan, mà ông từ chối không thèm quay đầu lại.

  Vậy là trong văn thơ có truyền thống lấy việc câu cá để từ chối việc làm quan, và coi câu cá là việc "câu người", "câu quạnh", "câu lười" để đợi thời. Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã lấy cớ đau mắt bỏ quan về làng năm 49 tuổi, vì không muốn hợp tác với triều đình bất lực, bán nước của nhà Nguyễn. Nhưng ông cũng không được yên. Đương thời, Vũ Văn Báo, Tổng đốc Nam Định, vâng lệnh Pháp mời ông lại ra làm quan, ông từ chối. Hoàng Cao Khải mời ông làm gia sư, ông miễn cưỡng phải đi, sau giao cho con trai Nguyễn Hoan đi thay. Sau cuộc vịnh Kiều do Lê Hoan tổ chức, ông cũng bị nghi kị. Bài Thu điếu này phải chăng cũng thể hiện khát vọng "câu thanh", "câu vắng" cho tâm hồn của một nhà thơ có phẩm cách thanh tao và nỗi phiền muộn kín đáo vì không được để yên.

  Là nhà thơ Việt Nam, Nguyễn Khuyến "câu vắng" tại ao nhà. Ao thu của ông mang nhiều nét đẹp nên thơ của làng quê thân thuộc, gần gũi. Nhưng nơi tâm khảm sâu xa, ông câu trong, câu tĩnh cho tâm hồn, lánh xa cục thế rối ren mà ông tự thấy bất lực.

Qua đèo ngang

  Trong lịch sử văn học Việt Nam, Bà huyện Thanh Quan (Nguyễn Thị Hinh) thuộc vào số tác giả để lại tác phẩm không nhiều, nhưng gậy được mối cảm tình nồng thắm nơi bạn đọc. Những ai đọc thơ bà đều cảm thấy một điệu thơ êm ái, ngọt ngào, một nỗi buồn cô đơn, lặng lẽ ám ảnh trong tâm hồn. Bài Qua Đèo Ngang này cũng như vậy.

  Về mặt thanh luật, bài thơ làm đúng theo luật thơ Đường thất ngôn bát cú thể trắc. Cả bài chỉ có ba chữ "cỏ", "chen", "ta" là không theo sát luật chuẩn, nhưng được luật "nhất, tam, ngũ, bất luận" cho phép. Điều đáng chú ý là mấy chữ không theo sát đó lại nằm trong dụng ý của tác giả là tăng thêm thanh bằng cho bài thơ được thêm êm ái, và tạo nên sự lặp lại từ tự nhiên: "chen đá lá chen hoa" và "ta với ta".

  Xét về mặt tả cảnh, bài thơ cực tả cảnh chiều tà hoang vắng, cô độc để thể hiện một niềm cô trung, nhớ tiếc kín đáo của nhà thơ.

  Bài thơ mở đầu bằng cảnh "bóng xế tà" nơi đèo cao heo hút. Bóng xế tà - sự kết hớp hai từ đồng nghĩa: "xế" và "tà" - như kéo dài bóng chiều ra cho tình cảm thêm ngao ngán, bâng khuâng. Cảnh chiều tà trong thơ cổ thường gợi nhớ về một triều đại cũ, non nước cũ.

  Cảnh "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa", tuy có cỏ cây hoa lá, nhưng hẳn không phải cảnh đẹp bởi vì sự "chen đá", "chen hoa" gợi vẻ um tùm, hoang dại, vô trật tự, chen lấn, lại không sắc hương, đường nét.

  Hình ảnh mấy chú tiều phu "lom khom" mải mốt hái củi dưới núi, như chẳng quan tâm gì thế sự, còn "lác đác" mấy túp lều chợ (có sách chép là rợ - đồng bào thiểu số; có lẽ đây là mấy túp lều tạm che mưa, nắng của kẻ tiều phu, không phải lều chợ), gây nên cảm giác vừa hoang vắng, vừa xa lạ. Đây đúng là nơi sơn cùng thuỷ tận của xứ Đàng Ngoài thời vua Lê, chúa Trịnh. Từ đây trở vào đã là xứ khác.

  Chính lúc ấy vẳng lên tiếng con chim cuốc kêu buồn nghe như vua Thục Đế xưa khóc nước cũ:

         Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

         Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

  Ở đây, đúng ra phải viết là con "cuốc cuốc", con chim cuốc kêu "cuốc cuốc". Nhưng người nghe (Bà huyện) lại nghe là "quốc quốc" nên chép là "quốc", như con chim mang hồn Thục Đế đang khóc nước.

  Chim đa đa được đọc chệch thành "gia gia" cho đối với "quốc quốc" và hợp cảnh nhớ nhà; và tiếng kêu "mỏi miệng" mà vô ích mới đáng thương làm sao. Đây là tiếng chim kêu khi chiều xuống hay tiếng lòng thương nhớ réo gào trong tâm hồn Bà huyện? Thật khó mà phân biệt, khi con người đang đứng trên đường phân chia xưa kia của hai xứ.

          Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,

          Một mảnh tình riêng, ta với ta.

  Một phút dừng chân lại, nhìn trời, nhìn non, nhìn nước, như một động tác chào từ biệt, một cử chỉ phơi trải tấm lòng. Còn bảy chữ trong câu kết là một lời cảm thán, chữ nào cũng mang nặng một niềm đơn chiếc mà không có ai chia sẻ. "Một mảnh tình" không giống với một tấm tình, bởi nó thiếu nguyên vẹn, như bị cắt xé ra, và cũng có ý tự khiêm nữa. Lại là "tình riêng", tình cá nhân của tác giả, hẳn không giống với tình số đông đương thời. "Ta với ta" nghĩa là chỉ ta mới hiểu ta; mà như vậy càng tăng thêm cảm giác về sự cô độc.

  Bầu trời, ngọn núi, bờ biển càng gợi ra một không gian bao la, cao rộng bao nhiêu, lại càng tương phản với mảnh tình bé nhỏ, đơn chiếc bấy nhiêu. Hai câu thơ mà rất nhiều ý. Nhưng cái buồn thầm lặng mà vẫn cứng cỏi. Phải chăng đây là nét đặc trưng của nỗi buồn xưa, nỗi buồn trước cảnh quan non sông biến đổi, triều đại hưng phế, nhưng tình riêng vẫn còn "bất biến" với chính mình?

  Qua Đèo Ngang đâu phải giản đơn là vượt qua một con đèo, một địa danh, địa giới. Qua Đèo Ngang còn là vượt qua một triều đại, vượt lên chính mình. Cái tên Đèo Ngang đối với Bà huyện có thể có chút ý vị ngang trái nào đó. Đạo đức phong kiến không chấp nhận một thần dân có thể thờ hai vua, hai triều đại, nhưng triều đại mới vẫn cần sự cộng tác của các thần dân triều đại cũ. Qua Đèo Ngang thời ấy có nghĩa là rời bỏ đất cũ, chúa cũ vào theo chúa mới, đất mới. Điều làm chi bà không hổ thẹn là bà vẫn không thôi thương tiếc cựu triều.

  Bài thơ thật êm ái, tha thiết. Cảnh sắc Đèo Ngang được miêu tả bằng những nét tiêu biểu của cảnh thực, lại vừa tiêu biểu cho nỗi lòng. Đúng là tình, cảnh hoà hợp một cách cổ điển. 

#tmh

Bạn có biết?

Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!

Nguồn :

TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT

Tâm sự lớp 8

Lớp 8 - Năm thứ ba ở cấp trung học cơ sở, học tập bắt đầu nặng dần và sang năm lại là năm cuối cấp, áp lực lớn dần. Hãy chú ý đến sức khỏe, cân bằng giữa học và nghỉ ngơi để đạt hiệu quả tốt nhất!

Nguồn :

sưu tập

Liên hệ hợp tác hoặc quảng cáo: gmail

Điều khoản dịch vụ

Copyright © 2021 HOCTAPSGK