Đã bao năm trôi qua, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được những gì mình đã làm gây ra khiến vợ tôi khiến nàng chọn con đường bức tử. Một nỗi ân hận ghê gớm luôn vò xé nỗi lòng mỗi khi đêm về. Tôi muốn kể cho các bạn nghe câu chuyện sai lầm này, để ai đó đừng bước vào vết xe đổ của tôi.
Tôi sinh ra trong một gia đình khá giả ở Nam Xương. Lúc bấy giờ, trong cùng làng có một người con gái đẹp tuy nhà nghèo có nhưng đẹp cả người đẹp nết, nàng tên là Vũ Thị Thiết, mọi người xung quanh thường gọi là Vũ Nương. Mến vì dung hạnh đoan trang, nên tôi đã xin mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ. Chúng tôi sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc và cùng háo hức chờ đợi đứa con đầu lòng. Bất ngờ, chiến tranh xảy ra, triều đình bắt lính đi tòng quân. Do xưa nay chẳng màng học hành nên tôi có tên trong danh sách. Không còn cách nào khác, tôi đành phải chia tay mẹ già, vợ trẻ để lên đường ra trận.
Vào ngày tòng quân, mẹ già nắm chặt tay tôi, ngậm ngùi khuyên:
- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy là hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách, phải lấy việc giữ mình làm trọng, biết gặp nạn thì lui, lượng sức mà đánh, đừng nên tham miếng mồi thơm, để lỡ mắc vào lưới cá. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế thì mẹ ở nhà mới đỡ lo lắng vì con được.
Tôi quỳ xuống vâng lời mẹ dạy. Vợ tôi rót chén rượu đầy nâng bằng hai tay đưa cho tôi và nói rằng:
– Lang quân đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường, rợ man chạy tội, vương sư uổng công; lời tâu công lớn phá giặc đã chầy, kỳ hẹn thay quân hóa muộn, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng. Trông mảnh trăng Trường An , nhanh tay đập áo rét, ngắm liễu tàn rủ bóng động nỗi niềm biên ải xa xôi. Giả sử có muôn hàng thư tín, chỉ e không một tin về.
Nàng nói đến đấy, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi tiệc tiễn vừa tàn, tôi dứt áo lên đường. Mọi vật xung quanh vẫn như cũ, nhưng lòng tôi đã bùi ngùi bởi cảnh sinh li và mối tình ngàn dặm quan san cách trở.
Ở chiến trường hơn một năm trời, may mắn được trở về đoàn tụ với gia đình. Nhưng sét đánh ngang tai, mẹ tôi vì quá nhớ thương con mà ốm đau biền biệt, cuối cùng cụ đã qua đời. Tôi đau xót biết bao, định bế con trai - bé Đản mới hơn một tuổi ra thăm mộ. Nhưng con từ lúc đẻ chưa gặp mặt, xa lạ nằng nặc không chịu đi. Dọc đường, bé Đản khóc, tôi dỗ: “Nín đi con, bà mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi”. Bé Đản liền nói tôi không phải là cha nó, cha nó là người trước đây đêm nào cũng đến bên mẹ. Tôi choáng váng. Đất dưới chân tôi như sụp xuống.
Tôi cứ bần thần nghĩ ngợi, Vũ Nương là một người vợ ngoan hiền, đức hạnh, chẳng lẽ hơn một năm xa cách, nàng lại trở nên hư hỏng như vậy sao? Tôi bỗng thấy căm giận Vũ Nương. Ghen tuông mù quáng khiến tôi bùng lên, không có cách gì dập tắt được. Về đến nhà, tôi la mắng om sòm cho hả giận. Vũ Nương bàng hoàng sửng sốt. Nàng vừa khóc vừa thanh minh : “Thiếp vốn con nhà nghèo khó, được nương tựa nhà giàu, vẫn lấy sự nết na thuỳ mị, công dung ngôn hạnh làm đầu. Vợ chồng sum họp chưa được bao lâu, chia xa chỉ vì lửa binh chứ không vì lí do gì khác. Trong ba năm cách biệt, thiếp một mực giữ gìn tiết hạnh, không tô son điểm phấn, không bén gót chốn chơi bời hoa liễu, một mực nhớ thương và chung thuỷ với chàng. Xin chàng hãy tin thiếp, đừng nghi oan cho thiếp mà tội nghiệp…”.
Nhưng bao nhiêu lời nói chân thật cũng không làm dịu được mối nghi ngờ trong tôi. Hàng xóm thương nàng tần tạo, chăm sóc mẹ chồng con thơ chu đáo, ma chay cho mẹ làm tương tự thân sinh của chính mình nên ra sức bênh vực và biện bạch cho nàng. Nhưng tôi không nghe ai hết. Lúc đó tôi chẳng quan tâm lời ai nói, tôi mắng nhiếc không tiếc lời rồi đánh đuổi nàng đi. Cảm thấy đã không thể thuyết phục được tôi, Vũ Nương bất đắc dĩ nói trong đau đớn, xót xa, cay đắng rằng :
– Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng, vì có cái thú vui nghi gia nghi thất, có sự yên ổn được tựa bóng cây cao. Đâu ngờ ân tình tựa lá, gièm báng nên non. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa gãy cuống, kêu xuân cái én lìa màn, nước thẳm buồm xa, đâu còn thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.
Tôi đã không biết, nàng lại đi tắm gội sạch sẽ, ra bến Hoàng Giang than khóc, thề nguyền và gieo mình xuống sông tự vẫn.
Về phần tôi, mối nghi ngờ không chỉ làm hại Vũ Nương mà còn làm khổ tôi, dằn vặt tôi không phút nào yên. Tuy giận Vũ Nương thất tiết nhưng khi nàng tự vẫn, tôi cảm thấy lòng đau nhói. Tôi cố vớt thây nàng để chôn nhưng tìm mãi không được. Một đêm, tôi ngồi buồn bã trước ngọn đèn khuya. Chợt đứa con trai bật thốt: “Cha Đản lại đến kia kìa!”, rồi chỉ tay vào bóng tôi in trên vách: “Đây này!”. Tôi ngỡ ngàng và hiểu ra tất cả. Thì ra, ngày thường lúc tôi vắng nhà, Vũ Nương hay trỏ bóng mình trên tường đùa con và báo đó là cha Đản. Tôi thấu hiểu nỗi oan động trời của vợ và trách mình sao quá nhẫn tâm, nhưng mọi chuyện trót đã qua rồi, không làm sao thay đổi được nữa…
Câu chuyện của tôi, những sai lầm của tôi là có thật. Tôi đã đánh mất hạnh phúc của chính mình. Kể ra câu chuyện đau lòng này, tôi chỉ muốn mọi người đừng xử sự nông nổi, cả giận mất khôn như tôi. Hãy tin yêu con người, thực lòng yêu thương người thân để gia đình không rơi vào những bi kịch đau đớn.
CỦA BẠN ĐÂY, THAM KHẢO NHÉ
Trong cuộc đời, ai cũng sẽ từng một lần phạm phải những sai lầm. Nhưng điều quan trọng là chúng ta sẽ đối diện và sửa chữa nó như thế nào. Trương Sinh tôi cũng đã mắc phải lỗi lầm vô cùng nghiêm trọng mà ngay cả tôi cũng không thể tha thứ cho bản thân mình. Chính vì tính tình nóng giận và hay ghen tuông của mình đã trực tiếp gây nên cái chết oan uổng cho vợ tôi.
Tôi vốn là con nhà hào phú có tiếng trong vùng. Cha tôi mất sớm nên tôi sống cùng với mẹ trong một căn nhà vô cùng đồ sộ. Lúc bấy giờ trong làng có một thiếu nữ tên Vũ Thị Thiết, tên thường gọi là Vũ Nương, tính tình thùy mị nết na, nhan sắc đẹp tuyệt trần. Thế nên tôi đem lòng yêu nàng say đắm. Vì quá hoàn hảo như vậy nên khi đến tuổi lấy chồng, có rất nhiều chàng trai trong làng để ý xin hỏi cưới nàng. Tôi thấy vậy trong lòng vô cùng bực tức, sợ nàng sẽ lọt vào tay kẻ khác nên quyết định thưa chuyện với mẹ, mong muốn được cưới nàng về làm vợ. Nghĩ đến đây, tôi đã cảm thấy bản thân mình thật tồi tệ, việc làm đấy chẳng khác nào dùng tiền để thỏa mãn ước mong cho riêng bản thân mà không quan tâm đến suy nghĩ của nàng ấy. Cưới nàng về vừa là sự sai lầm của tôi vì khiến nàng đau khổ nhưng nó cũng là một điều hạnh phúc với tôi. Vũ Nương là một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Cô ấy luôn chăm lo chu toàn cho tôi và mẹ, cơm nước, nhà cửa lúc nào cũng tinh tươm. Ấy vậy nên một người khó tính như mẹ tôi chưa bao giờ phàn nàn về cô ấy bất kì điều gì. Còn tôi có phúc không biết đường hưởng, lại suốt ngày giở thói ghen tuông những chuyện nhỏ nhặt và cấm vợ không được bén mảng đến gần một nam nhân nào khác. Vũ Nương biết tính tôi như vậy nên luôn giữ gìn phép tắc, không để vợ chồng phải to tiếng hay thất hòa.
Thời gian thấm thoắt trôi qua, tôi và Vũ Nương đón tin vui đầu tiên là gia đình sắp chào đón thêm thành viên mới. Mặc dù gia đình khá giả nhưng do ít học nên chẳng bao lâu sau tôi bị bắt đi lính. Mẹ chồng và vợ tôi đều rất buồn phiền nhưng đây là lệnh của triều đình, nào ai dám làm trái. Trước khi đi, mẹ dặn tôi đủ điều, khuyên tôi giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Vũ Nương cũng không mong gì hơn ngoài chuyện tôi bình yên trở về để gia đình sớm được đoàn tụ chứ không cần quan cao tước lớn. Nói xong, tôi dứt áo ra đi. Sau khi tôi đi được mươi ngày, nàng hạ sinh một đứa con trai đầu lòng, đặt tên là Đản. Tôi ở chiến trường vẫn không nguôi nhớ về quê nhà, nhớ người mẹ dấu yêu, nhớ người vợ thảo hiền, và nhớ cả đứa con trai chưa gặp mặt lần nào. Ngày qua tháng lại, thoáng cái đã nửa năm, nỗi lòng nhớ tôi của mẹ ngày càng sâu nặng, bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi cũng không thể nào ngăn được nên lâu ngày dần sinh ốm. Cô ấy hết sức thuốc thang lễ bái thần phận và ngọt ngào khuyên lơn mẹ nhưng bệnh tình vẫn không có tiến triển mà mỗi ngày một trở nên nghiêm trọng. Biết mình chẳng còn được bao lâu, mẹ bèn trối lại với cô ấy: “ Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con cũng chẳng phụ mẹ”. Mẹ tôi đến cuối đời mặc dù không thể gặp mặt con trai nhưng có một nàng dâu hết lòng chăm sóc bà như vậy cũng yên lòng nhắm mắt. Nàng phàm việc ma chay tế lễ cho mẹ chu đáo như đối với cha mẹ đẻ của mình khiến ai nẫy cũng đều cảm động. Giá như tôi có thể hiểu được tấm lòng của cô ấy thì mọi bi kịch đã không xảy ra.
Qua một thời gian sau, giặc ngoan cố đã chịu trói, chiến tranh chấm dứt, tôi bình yên trở về quê hương. Về đến nhà nghe tin mẹ đã qua đời, tôi hết sức đau lòng. Vì không biết đường nên sau khi hỏi mồ mẹ ở đâu, tôi bế đứa con nhỏ đi thăm. Nhưng đến nơi thằng bé cứ quấy khóc mãi không thôi. Tôi thấy thề liền nhẹ nhàng dỗ dành: “Nín đi con, đừng khóc nữa! Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi!”. Nó ngay lập tức hỏi lại tôi: “ Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít”. Tôi nghe đến đây thì vô cùng ngạc nhiên. Cô ấy vậy mà nhân cơ hội lúc tôi ra chiến trường không có ở nhà mà dan díu với người đàn ông khác ư? Vợ tôi thế mà lại phản bội lại tôi ư? Thật không thể nào chấp nhận được. Tôi về nhà với tâm trạng như “giông bão” đang nổi lên. Tôi trách mắng nàng ấy vô cùng thậm tệ, khăng khăng nàng ấy hư thân mất nết. Vũ Nương khóc mà rằng: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Nhưng những lời giải thích này của nàng ấy nào có thể lọt tai tôi. Mặc cho sự bênh vực và khuyên nhủ từ họ hàng làng xóm, tôi vẫn đinh ninh vợ đã làm chuyện có lỗi với mình. Thấy tôi chưa nguôi cơn giận, Vũ Nương bèn nói tiếp: “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân con én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa?”. Nhưng những lời minh oan lúc này của nàng chỉ làm bùng phát lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng tôi. Tôi quyết định đuổi nàng đi và đó chắc chắn là quyết định sai lầm nhất trong cuộc đời tôi. Tôi đúng là giận quá nên mất khôn nên đã đưa ra quyết định thiếu suy nghĩ như vậy mặc dù chưa tìm hiểu rõ sự việc ngọn ngành, chỉ tin lời đứa con trai vừa biết nói mà đẩy người con gái ấy đến bước đường cùng. Những lời nói của Vũ Nương trước khi gieo mình xuống sông Hoàng Giang: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám! Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, xin vào nước làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Thấy nàng phải dùng đến cái chết để minh oan cho bản thân mình, tôi động lòng thương cho người tìm vớt thây nàng nhưng vô vọng.
Vào một đêm khuya vắng lặng, tôi ngồi buồn rười rượi dưới ngọn đèn khuya, chợt bé Đản chỉ bóng cha trên vách nói rằng cha Đản lại đến kia kìa. Tôi lúc này mới tỉnh ngộ nhưng đã quá muộn màng. Hóa ra người tình của vợ tôi lại là một cái bóng. Vì để con có một tuổi thơ vui vẻ, không cảm thấy thiếu thốn tình cảm của cha và cũng như làm vơi đi nỗi lòng thương nhớ chồng, Vũ Nương đã đùa bé Đản trỏ bóng mình lên vách và bảo đó là tôi. Mà tôi lại hồ đồ trách lầm, sỉ nhục, lăng mạ, thậm chí là đuổi người con gái thủy chung ấy đi dẫn đến nàng phải tìm đến cái chết để minh oan mình vô tội. Tôi vô cùng đau lòng và dằn vặt bản thân mỗi lúc nhớ đến việc này. May thay, tôi được Phan Lang – người cùng làng báo tin nàng đang sống một cuộc sống hạnh phúc dưới thủy cung cùng Linh Phi. Và nàng mong muốn tôi nếu còn chút tình nghĩa thì lập một đàn giải oan cho nàng ở bến sông. Xuất hiện trên chiếc kiệu hoa ở giữa sông, nàng tạ ơn tôi rồi biến mất.
Mặc dù Vũ Nương chẳng thể quay lại bên tôi và con nữa nhưng biết được rằng nàng đang vui vẻ bên một thế giới nào đó. Chỉ cần như vậy thôi tôi cũng đã cảm thấy nhẹ bớt nỗi oán trách bản thân mình trong lòng và vô cùng mãn nguyện. Qua câu chuyện đáng trách này của tôi, tôi mong mọi người đừng ai như tôi, và trong tình yêu luôn luôn tin tưởng đối phương, không ghen tuông mù quáng.
Đây là bài mình tự làm. Có sai sót mong bạn bỏ qua nhaa. Chúc bạn học tốt nè
Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.
Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆTLớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, sắp phải bước vào một kì thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô và cả kì vọng của phụ huynh ngày càng lớn mang tên "Lên cấp 3". Thật là áp lực nhưng các em hãy cứ tự tin vào bản thân là sẻ vượt qua nhé!
Nguồn : ADMIN :))Xem thêm tại https://loigiaisgk.com/cau-hoi or https://giaibtsgk.com/cau-hoi
Copyright © 2021 HOCTAPSGK