Đáp án và các bước giải thích :
Phân tích 12 câu thơ miêu tả Thúy Kiều :
“Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn”.
Không cần tốn nhiều bút lực để miêu tả nhan sắc của Thúy Kiều, chỉ với một từ “càng”, Nguyễn Du đã làm nổi bật vẻ đẹp tuyệt thế của nàng. Ở đây, tác giả đã sử dụng rất tài tình nghệ thuật đòn bẫy, lấy khách hình chủ, tả kĩ, tả đẹp để Vân trở thành tuyệt thế giai nhân, để rồi khẳng định: “Kiều càng sắc sảo mặn mà”. Từ “càng” đứng trước hai từ láy “sắc sảo”, mặn mà” với dụng ý rằng Kiều không chỉ mặn mà về nhan sắc mà còn sắc sảo trong trí tuệ, trong tâm hồn.
“Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
Đôi mắt được gọi với một mỹ từ khác là “cửa sổ tâm hồn”, đó luôn là điểm tạo ấn tượng với người đối diện bởi một đôi mắt đẹp, đôi mắt trong chứng tỏ một tâm hồn thanh lịch. Miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, Nguyễn Du tập trung vào đôi mắt: “Làn thu thủy, nét xuân sơn”. Bút pháp ước lệ tượng trưng đã vẽ nên nét đẹp trong tâm hồn người con gái “tới tuân cập kê”. Đó là đôi mắt trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu; đó là hàng lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân. Vẻ đẹp của Kiều được hội tụ và toát lên từ đôi mắt. Vẻ đẹp ấy khiến “hoa ghen”, “liễu hờn”, nước nghiêng, thành đổ. Thi nhân không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đố kị, ghen ghét với vẻ đẹp ấy. “Nghiêng nước nghiêng thành” là cách nói sáng tạo từ điển cố cực tả giai nhân “nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc”. Rõ ràng, cái đẹp của Kiều có sức quyến rũ làm say đắm lòng người như Tây Thi, Bao Tự trong thơ ca Trung Hoa trung đại. Vẻ đẹp ấy chính là kết quả của một phẩm chất cao quý bên trong bởi quan niệm “tướng tại tâm sinh”. Thử làm một phép so sánh khi miêu tả với Thúy Vân mới thấy được quan niệm “hồng nhan đa truân” của Nguyễn Du khi miêu tả Thúy Kiều. Ở Thúy Vân, vẻ đẹp của nàng là vẻ đẹp được thiên nhiên đồng thuận, với “hoa cười, ngọc thốt”, còn ở Thúy Kiều, nhan sắc ấy là nhan sắc tuyệt trần nhưng lại bị đố kỵ và ghen ghét “hoa ghen”, “liễu hờn”. Đây chính là dự cảm của Nguyễn Du về số phận truân chuyên của Kiều.
Khác với Thúy Vân, tác giả miêu tả Thúy Kiều không chỉ là người con gái đẹp mà còn là người phụ nữ tài hoa:
“Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”.
Với trí tuệ được thiên nhiên ban tặng, Kiều thuần thục cả cầm, kỳ, thi, họa, trở thành người con gái đa tài mà tài nào cũng thuần thục và xuất chúng. Đặc biệt, tài đàn của nàng vượt trội hơn cả. Khúc “bạc mệnh” mà nàng soạn mỗi khi cất lên đều khiến người khe buồn thương đến rơi lệ, ão não đế nao lòng. Phải chăng đó là sự thăng hoa của một tâm hồn đa cảm, một trái tim đa sầu với những vận mệnh trái ngang mà chính Nguyễn Du cũng đã từng trăn trở:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”
Có thể thấy, vẻ đẹp của Thúy Kiều là sự kết hợp hài hòa giữa tài, tình và sắc. Đó là vẻ đẹp tuyệt thế gian nhân, là tài năng tuyệt đỉnh, là tâm hồn đa cảm nhiều tâm tư trắc ẩn. Đó là chân dung mang tính cách số phận bởi sắc đẹp và tài năng của Kiều quá nổi trội mà thiên nhiên, tạo hóa thì:
“Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
Ngòi bút nhuốm màu định mệnh của Nguyễn Du đã thể hiện tấm lòng nhân đạo, cảm thông cho số phận của nàng Kiều trong những tháng ngày phiêu bạc sắp tới.
Ngợi ca vẻ đẹp của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao giá trị, phẩm giá của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm hạnh; qua đó, dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh. Sự ngưỡng mộ, ngợi ca người phụ nữ trong xã hội “trọng nam khinh nữ” chính là biểu hiện sâu sắc của cảm hứng nhân văn trong ngòi bút tác giả.
Nguyễn Du là một thi hào dân tộc Việt Nam . Ông đã để lại cho đời kiệt tác Truyệnkiều . Truyện Kiều là một bài ca lớn về giá trị nhân đạo , một bản cáo trạng nghiệmkhắc về cái ác , cái phản nhân bản , một tập đại thành của nghệ thuật văn chương . Chỉ xét riêng về nghệ thuật miêu tả nhận vật , Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao chói lọi nhất trong lịch sử tiểu thuyết bằng thơ . trích đoạn Chị em Thúy Kiều đả thể hiện được trọn vẹn vè đẹp , tài năng va đức hạnh của Thúy kiều . Tác giả dùng thủ pháp đòn bẩy, tả khách hình chủ, tả Thuý Vân trước rồi mới tả Thuý Kiều. Vân đã đẹp, Kiều càng muôn phần đẹp hơn. Thuý Kiều lại có nhan sắc “ sắc sảo mặn mà”. Kiều “sắc sảo” về trí tuệ, “mặn mà” về tâm hồn. Đặc biệt, vẻ đẹp ấy thể hiện qua đôi mắt “làn thu thuỷ nét xuân sơn”. Đôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn, đôi mắt Kiều trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân. Nếu vẻ đẹp của Thuý Vân được thiên nhiên tạo hoá sẵn sàng nhường nhịn thì với Thuý Kiều, vẻ đẹp ấy lấn át cả thiên nhiên, khiến cho thiên nhiên ấy phải đố kị, ghen ghét: " Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn" Khác với vẻ trang trọng đài các quý phái của Thúy Vân, Nguyễn Du miêu tả Kiều với một nét “ sắc sảo mặn mà”. Nàng không chỉ “ sắc sảo” về trí tuệ mà còn “ mặn mà” về tâm hồn – một vẻ đẹp có sức hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ. So về tài lẫn sắc, Thúy Kiều đều hơn hẳn Thúy Vân. Đến đây, người đọc mới hiểu được tại sao Nguyễn Du lại dành thời gian miêu tả Thúy Vân trước. Bằng cách vận dụngnghệ thuật đòn bẩy thật tài tình, tả khách hình chủ, tả Thuý Vân trước rồi mới tả Thuý Kiều, tác giả đã lấy vẻ đẹp Thúy Vân làm nền để nâng tài sắc của Kiều lên một bậc cao hơn. Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một tài đành họa hai " Khi viết về Thúy Kiều, ngòi bút của Nguyễn Du thiên về gợi hơn tả.Ở Thúy Kiều, nhà thơ tập trung vào ánh mắt, nét mày. Đôi mắt Kiều được ví như làn nước mùa thu xanh biếc, thăm thẳm và phẳng lặng. Nét mày thanh tú, xinh tươi như dáng núi mùa xuân. Vẫn là những hình ảnh ước lệ quen thuộc trong thơ cổ “thu thuỷ”,“ xuân sơn”, “ hoa” “ liễu”… được đưa vào thơ nhằm nổi bật vẻ tươi tắn, quyến rũ của Thuý Kiều, Nguyễn Du đã vận dụng thần tình bút pháp tả người để hình tượng nhân vật trở nên bất hủ. Với ánh mắt ấy, với đôi mày ấy cùng với thành ngữ “ nghiêng nước nghiêng thành” khiến người đọc liên tưởng đến những đại mỹ nhân trong lịch sử Trung Quốc cổ: nụ cười của nàng Bao Tự, sự duyên dáng của Tây Thi hay một nét quyến rũ của Điêu Thuyền thời Tam Quốc... Dường như, khi viết về Thuý Kiều, tác giả đã đem tất cả những vẻ đẹp của thế gian đưa vào để tô điểm chân dung nhân vật. Không chỉ đẹp, Kiều còn rất tài hoa. Nếu vẻ đẹp của nàng là duy nhất trên thế gian, tài năng của nàng hoạ chăng mới có một người thứ hai sánh được: “ Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân” Với trí thông minh trời phú, Thuý Kiều giỏi tất cả các môn cầm kì thi hoạ. Từ việc làm thơ đến vẽ tranh, ca ngâm đánh đàn, thành thạo âm nhạc, tất cả đều xuất sắc hơn người. Đặc biệt khúc đàn “ Bạc mệnh” do chính nàng soạn ra làm cho người nghe phải buồn thương rơi lệ. Phải chăng khúc đàn ấy là biểu hiện sinh độngcho một cái tâm đa sầu đa cảm. Tài năng ấy đã đạt tới mức lí tưởng theo quan niệmthẩm mĩ phong kiến lúc bấy giờ. Như vậy, vẻ đẹp của Thuý Kiều là sự kết hợp hài hoà giữa ba yếu tố: sắc, tài, tình. Sắc đẹp hoàn hảo đến mức “ nghiêng nước nghiêng thành”, khiến cho “hoa ghen”, “liễu hờn”. Tài năng tuyệt đỉnh hơn người cùng những “ nghề riêng” ta thường thấy phổ biến trong chốn phong lưu. Tài năng ấy lại kết hợp với cái tâm đa sầu đa cảm của nàng thay cho lời dự báo một cuộc đời long đong, đầy sóng gió. Qua bức chân dung của Thúy Kiều, ngòi bút tả người của Nguyễn Du không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp ngoại hình, đằng sau đó còn là chân dung tính cách, chân dung số phận. Người đời sau ca ngợi Nguyễn Du là “ thiên cổ kì bút” không có gì cường điệu. Tóm lại, nhân vật là đứa con tinh thần của tác giả, qua nhân vật tác giả bộc lộ quan điểm thậm chí cả tâm tư tình cảm của mình. Thuý Kiều với sắc đẹp tuyệt trần không chỉ là điển hình chuẩn mực về nghệ thuật mà còn thể hiện được tài năng miêu tả và tấm lòng ưu ái của nhà thơ dành cho nhân vật. Đó cũng là một trong những giá trị nhân đạo tiêu biểu của “ Truyện Kiều”.
Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.
Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆTLớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, sắp phải bước vào một kì thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô và cả kì vọng của phụ huynh ngày càng lớn mang tên "Lên cấp 3". Thật là áp lực nhưng các em hãy cứ tự tin vào bản thân là sẻ vượt qua nhé!
Nguồn : ADMIN :))Xem thêm tại https://loigiaisgk.com/cau-hoi or https://giaibtsgk.com/cau-hoi
Copyright © 2021 HOCTAPSGK