Trang chủ Ngữ văn Lớp 9 I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm) Dưới đây là một...

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm) Dưới đây là một phần trong lệnh truyền của vua Quang Trung với quân lính: - Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ng

Câu hỏi :

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm) Dưới đây là một phần trong lệnh truyền của vua Quang Trung với quân lính: - Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. (…) Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. (Trích Ngữ văn 9, tập một - NXB Giáo dục, 2012) Câu 1 : Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? (1đ) Câu 2 : Nhà vua nói “Đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị” nhằm khẳng định điều gì? Hãy chép hai câu trong một bài thơ đã học trong chương trình Ngữ văn THCS có nội dung tương tự và ghi rõ tên tác giả, tác phẩm. (2đ) II. LÀM VĂN (7 điểm) Câu 1 : (2 điểm) Dựa vào nội dung câu “Đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị” của phần I, em hãy trình bày suy nghĩ về hình ảnh người chiến sĩ ngày đêm bảo vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc bằng một bài văn ngắn (khoảng nửa trang giấy). Câu 2 : (2 điểm) Nhận xét về kết thúc tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ có ý kiến cho rằng đây là một kết thúc có hậu. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng đó là kết thúc không có hậu. Vì sao? Câu 3 : (3 điểm)Chép lại và phân tích 4 câu thơ đầu trong đoạn trích Cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) gợi lên vẻ đẹp của mùa xuân như thế nào?

Lời giải 1 :

I. ĐỌC – HIỂU

Câu 1 :

- Đoạn văn trong tác phẩm Hoàng Lê Nhất thống chí.

- Tác giả: nhóm Ngô Gia văn phái - Dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai - Hà Nộị. Hai tác giả chính: Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du.

Câu 2 :

- Nhà vua nói như vậy để khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc ta.

- Hai câu thơ có nội dung tương tự trong bài Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt):

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

(Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành đã định tại sách trời)

II. LÀM VĂN 

Câu 1 :

 Việt Nam là một quốc gia nằm ven biển. Lãnh thổ bao gồm đất liền và rất nhiều hải đảo. Bên cạnh những người chiến sĩ bảo vệ chủ quyền của đất nước trên đất liền, trên không, chúng ta không thể không nghĩ tới những người chiến sĩ ngày đêm bảo vệ biển đảo thiêng liêng của dân tộc.  Các anh là những người sống trong một khung cảnh có nhiều khó khăn gian khổ: sống giữa biển khơi, đầy nắng gió, thường xuyên gặp phải bão tố. Cuộc sống của các anh thiếu thốn phương tiện so với người dân ở đất liền: thiếu nước ngọt, thiếu sách báo. Xa gia đình, xa người thân nên nhiều khi phải trải qua những nỗi buồn da diết vì nhớ nhà. Tuy đầy gian khổ và khó khăn nhưng những điều này không làm mềm đi ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền tổ quốc, bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân, nhất là những ngư dân trên biển cả. Đất nước được toàn vẹn, cuộc sống vẫn phát triển bình thường, hàng ngày các em được bình yên đến trường, bữa cơm mỗi ngày không thiếu những sản phẩm của biển cả. Nhờ vậy mà có một phần không nhỏ công sức và sự hy sinh thầm lặng của các anh đã làm cho tổ quốc chúng ta được yên bình như ngày nay chúng ta phải bảo vệ nó không cho bất cứ ai có thể xâm nhập được ,cố gắng giữ  nó .

Câu 2 : 

Câu chuyện kết thúc song tính bi kịch vẫn tiềm ẩn trong cái lung linh kì ảo. Quả không sai, câu chuyện truyền kỳ kết thúc nhưng hiện thực vẫn còn đau đáu những nỗi niềm thân phận, bi kịch của những người phụ nữ như Vũ Nương vẫn còn tái diễn. Đằng sau cái kết tưởng như có hậu đó vẫn còn ẩn chứa bi kịch. Đó chính là còn bao nhiêu người phụ nữ sẽ nối tiếp sau Vũ Nương khi mà xã hội phong kiến luôn đè nặng, chuyên quyền? Chiến tranh phi nghĩa làm Trương Sinh xa nhà, đi lính khiến cho mối hàm oan của Vũ Nương có dịp phát sinh. Chế độ nam quyền làm những người chồng như Trương Sinh trở nên nhỏ nhen, ích kỷ, gia trưởng, độc đoán. Chính những điều đó đã giết chết bao thân phận phụ nữ nhỏ nhoi, đức hạnh. Cái kết thỏa mãn ước mơ về công bằng ở đời: người tốt sẽ gặp được những điều tốt. Dường như hiện thực thì không phải lúc nào cũng vậy, bi kịch vẫn còn đó trong cái kết của truyện, gợi cho chúng ta nhiều sự thương cảm, xót xa cho những người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp lại chịu nhiều bất hạnh dưới chế độ phong kiến hà khắc. Tuy nhân vật Vũ Nương vẫn được miêu tả với kiếp sống ở chốn thuỷ cung và sự trở về lung linh kì ảo để thể hiện ước mơ của con người về sự công bằng trong cuộc đời, nhưng tính bi kịch cũng tiềm ẩn ngay từ cái kết này bởi sự trở về và ước mơ hạnh phúc của Vũ Nương mang màu sắc ảo ảnh, hư vô, con người chỉ biết tìm đến cho mình hạnh phúc ở một thế giới không hiện hữu. Do đó tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái kết lung linh kì ảo, bởi ý kiến đó xuất phát từ việc nắm bắt giá trị hiện thực của tác phẩm.

Câu 3 :

Nguyễn Du là đại thi hào, nhà văn lớn của dân tộc. Truyện Kiều là tác phẩm để đời không chỉ của Nguyễn Du mà còn là tác phẩm lớn tự hào của cả dân tộc. Hơn hai trăm năm nay, Truyện Kiều đã được lưu truyền rộng rãi và có sức ảnh hưởng lớn trong nền văn học nước nhà. Tác phẩm đã đạt đến bậc thầy nghệ thuật miêu tả người, cảnh vật thiên nhiên. Đặc biệt trích đoạn Cảnh Ngày Xuân – xuất hiện ngay sau trích đoạn miêu tả chị em Thúy Kiều đã làm nức lòng người đọc. Phân tích 4 câu đầu cảnh ngày xuân để thấy bút pháp tả cảnh bậc thầy, Nguyễn Du đã tái hiện phong cảnh mùa xuân hữu tình đầy sức sống.

“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cảnh lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Mùa xuân dưới con mắt của Nguyễn Du đầy sức sống, mãnh liệt và cũng rất tinh khôi.

Phân tích 4 câu đầu cảnh ngày xuân – Nếu mùa xuân của Xuân Diệu – nhà thơ mới nồng nhiệt, háo hức như cô gái xuân thì hay rất vội vàng chỉ sợ xuân qua đi: “Của ong bướm này đây tuần trăng mật/Này đây hoa của đồng nội xanh rì/Này đây lá của cành tơ phơ phất/Của yến anh này đây khúc tình si” … “Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua/Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”.

Hay mùa xuân của Nguyễn Trãi là niềm vui là tình người, là sự sum vầy

Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi,
Ưa mày vì tiết sạch hơn người.
Gác đông ắt đã từng làm khách,
Há những Bộ tiên kết bạn chơi.

Thì mùa Xuân của Nguyễn Du lại vô cùng đặc sắc, tinh tế. Khó có thể so sánh bức xuân họa của thi sĩ nào đẹp hơn, đầy sức sống hơn nhưng bút pháp lại khác nhau. Đại thi hào Nguyễn Du bằng biệt tài tả cảnh của mình đã vẽ lên mùa xuân với đầy đủ hình ảnh chim én, cỏ non, cành lê, có cả không gian trên trời lẫn không gian dưới mặt đất. Cả hai không gian mở ra một khung trời xuân tươi mới, đầy sức sống:

“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Nhắc đến mùa xuân chắc chắn phải nhắc đến chim én. Chim én chính là biểu tượng của mùa xuân. Khi tiết trời ấm áp, chim én từng đàn bay rợp bầu trời trở về để tận hưởng không khí mùa xuân đất trời. Hình ảnh chim én khiến ta chợt nhớ đến lời bài hát: Khi gió đông ngát thơm, rợp trời chim én lượn. Cây nẩy đầy chồi xanh, mây trắng bay yên lành”. Và trong câu thơ thứ hai, Nguyễn Du đã ví mùa xuân như ông lão ngoài sáu mươi tuổi. Một hình ảnh ví von thật đặc sắc. Vậy mà khi bước sang tháng ba tiết thanh minh, mua xuân vẫn ngập tràn ánh sáng. Câu thơ không chỉ miêu tả khung cảnh mà còn miêu tả cảm xúc con người.

Con én đưa thoi không chỉ là hình ảnh của mùa xuân mà nó còn là hình ảnh của thời gian, trôi nhanh đầy nuối tiếc. Động từ “Đưa thoi” thể hiện sự trôi trảy rất đỗi nhanh và không thể nắm bắt. Có thể nói, cảm quan thời gian của ông rất mới mẻ, hiện đại, không hề giống như những nhà thơ trung đại khác. Cảm quan này khá giống với Xuân Diệu như ta nhắc ở trên. Điều này giúp cho ta trân trọng thời gian trôi qua hơn, luyến tiếc thời gian qua và luyến tiếc tuổi trẻ. Vì vậy hãy sống và nâng niu từng phút giây đang có để cuộc đời không trôi qua trong nuối tiếc.

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Nếu bức tranh mùa xuân chỉ có không gian thì thật thiếu sót, Nguyễn Du đã mở ra mùa xuân – một bức họa hoàn hảo với cả không gian trời và đất. Làm nền cho bức tranh mùa xuân ấy là thảm cỏ tươi non, mơn mởn trải dài đến tận chân trời. Đọc câu thơ ta cảm thấy còn đọng lại hạt sương non trên đám cỏ tươi. Hạt sương của mùa xuân cũng long lanh khiến cho cỏ càng thêm xanh, thêm tươi đầy sức sống. Trên nền bức tranh màu xanh ấy lại điểm thêm một vài bông hoa lê trắng tinh khôi khiến cho sức sống càng mãnh liệt hơn. Những câu thơ của Nguyễn Du trong phân đoạn cả cảnh không hề mang tính ước lệ mà nó rất thực, rất đẹp và tinh tế. Đọc hai câu thơ ta cảm nhận một bức họa hoàn hảo, đầy sức sống đang vẽ ra trước mặt, cảm giác như ta có thể chạm vào, cảm nhận và cũng thấy cuộc đời mình xanh hơn và tươi hơn.

Đọc câu thơ Nguyễn Du ta lại liên tưởng đến câu thơ cổ Trung Quốc:

Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa.
(Cỏ thơm tiếp nối trời xanh
Hoa lê một vài đóa nở)

Phân tích 4 câu đầu cảnh ngày xuân – Hai câu thơ cũng có cỏ thêm cũng có hoa lê nhưng lại là cảnh tĩnh thiếu đi sức sống, màu sắc ít và đơn giản. Bức tranh cổ chủ yếu nhấn mạnh vào màu xanh của cỏ còn hoa lê chỉ là phần phụ. Nhưng trong thơ của Nguyễn Du, bức tranh mùa xuân nhiều sức sống hơn, cỏ non xanh mỡ màng, lại điểm thêm màu trắng hoa lê làm nổi bật bức tranh, trên bầu trời lại có chim én lượn quanh càng thêm sức sống. Không gian trong thơ của Nguyễn Du là không gian cao và thấp, trời và đất hòa quyện vào nhau. Một bức tranh có tầm nhìn xa và gần, thêm đó là tư tưởng hiện đại mà khó nhà thơ trung cổ nào có được, sự vội vàng của mùa thu, sợ hãi khi mùa thu qua, sợ hãi khi tuổi trẻ trôi nhanh.

Đặc biệt bút pháp đảo ngữ “trắng điểm” khiến cho bức tranh mềm mại, tinh khôi hơn, cũng nhờ điểm này mà tranh mùa xuân của ông thành kiệt tác trong nghệ thuật tả cảnh.

Chỉ với một vài biện pháp tả cảnh, Nguyễn Du đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân đầy sức sống, tươi đẹp. Đọc từng câu thơ ông cảm nhận được bút pháp tài hoa, giàu chất tạo hình thi nhân. Trước bức tranh, tâm hồn con người cảm thấy yêu đời, chấn phấn hơn.

GỬI BẠN BÀI LÀM

Thảo luận

Bạn có biết?

Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.

Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT

Tâm sự 9

Lớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, sắp phải bước vào một kì thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô và cả kì vọng của phụ huynh ngày càng lớn mang tên "Lên cấp 3". Thật là áp lực nhưng các em hãy cứ tự tin vào bản thân là sẻ vượt qua nhé!

Nguồn : ADMIN :))

Liên hệ hợp tác hoặc quảng cáo: gmail

Điều khoản dịch vụ

Copyright © 2021 HOCTAPSGK