Bài `5:`
Gọi số học sinh khối `6;7;8` lần lượt là `x ; y ; z \text{học sinh} \text{(điều kiện} : x ; y ; z \in NN** \text{và} z <x)`
Vì số học sinh ba khối `6;7;8` tỉ lệ với `10 ; 9; 8` nên ta có `x/10 = y/9 = z/8`
Lại có, số học sinh khối `8` ít hơn số học sinh khối `6` là `50` học sinh nên `x-z=50` (học sinh)
Áp dụng tính chất dãy tỉ số bằng nhau ta có :
`x/10 = y/9 = z/8 = (x-z)/(10-8) = 50/2 =25`
Khi đó ta có :
`x/10 = 25 => x = 25 . 10 = 250` (thỏa mãn điều kiện)
`y/9 = 25 => y = 25 . 9 = 225` (thỏa mãn điều kiện)
`z/8 = 25 => z = 25 . 8 = 200` (thỏa mãn điều kiện)
Vậy số học sinh khối `6;7;8` lần lượt là `250 ; 225 ; 200` (học sinh)
Bài `6:`
Đặt `x/4 = y/7 = k (k \ne 0)`
Khi đó ta có :
`{(x = 4k),(y = 7k):}`
Mà `xy = 112` nên ta có :
`4k . 7k = 112`
`=> 28k^2 =112`
`=> k^2 = 4`
`=> k =2` hoặc `k=-2`
`+)` Nếu `k=2` thì ta có : `{(x = 4k = 4 . 2 = 8 ),(y = 7k = 7 . 2 = 14):}`
`+)` Nếu `k=-2` thì ta có : `{(x = 4k = 4 . (-2) = -8 ),(y = 7k = 7 . (-2) = -14):}`
Vậy `{(x = 8),(y = 14):}` và `{(x = -8),(y = -14):}` là giá trị cần tìm.
Bài 5 :
Gọi số học sinh khối `6 , 7 , 8` lần lượt là `a , b , c` ( học sinh ; a , b , c ∈ N* )
Số học sinh khối `6 , 7 , 8` tỉ lệ với `10 , 9 , 8`
`=> a/10 = b/9 = c/8`
Số học sinh khối `8` ít hơn số học sinh khối `6` là `50` học sinh.
`=> a - c = 50`
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau , ta có :
`a/10 = b/9 = c/8 = ( a - c )/( 10 - 8 ) = 50/2 = 25`
`a/10 = 25 => a = 250 ( tmđk )`
`b/9 = 25 => a = 225 ( tmđk )`
`c/8 = 25 => a = 200 ( tmđk )`
Vậy khối `6` có `250` học sinh ; khối `7` có `225` học sinh ; khối `8` có `200` học sinh.
Bài 6 :
`x/4 = y/7`
`=> ( x/4 )^2 = ( y/7 )^2 = x/4 . y/7`
`=> x^2/16 = y^2/49 = (xy)/28 = 112/28 = 4`
`x^2/16 = 4 => x^2 = 64 => x ∈ { -8 ; 8 }`
`y^2/49 = 4 => y^2 = 196 => y ∈ { -14 ; 14 }`
Vì `xy = 112 => x ; y` cùng dấu
`=> {(x=-8),(y=-14):}` hoặc `{(x=8),(y=14):}`
Toán học là môn khoa học nghiên cứu về các số, cấu trúc, không gian và các phép biến đổi. Nói một cách khác, người ta cho rằng đó là môn học về "hình và số". Theo quan điểm chính thống neonics, nó là môn học nghiên cứu về các cấu trúc trừu tượng định nghĩa từ các tiên đề, bằng cách sử dụng luận lý học (lôgic) và ký hiệu toán học. Các quan điểm khác của nó được miêu tả trong triết học toán. Do khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều khoa học, toán học được mệnh danh là "ngôn ngữ của vũ trụ".
Nguồn : Wikipedia - Bách khoa toàn thưLớp 7 - Năm thứ hai ở cấp trung học cơ sở, một cuồng quay mới lại đến vẫn bước tiếp trên đường đời học sinh. Học tập vẫn là nhiệm vụ chính!
Nguồn : ADMIN :))Xem thêm tại https://loigiaisgk.com/cau-hoi or https://giaibtsgk.com/cau-hoi
Copyright © 2021 HOCTAPSGK