Trang chủ Ngữ văn Lớp 11 cảm nhận của anh chị về nhân vật bà tú...

cảm nhận của anh chị về nhân vật bà tú trong bài thơ thương vợ của trần tế xương câu hỏi 39884 - hoctapsgk.com

Câu hỏi :

cảm nhận của anh chị về nhân vật bà tú trong bài thơ thương vợ của trần tế xương

Lời giải 1 :

Nhắc đến những nhà thơ trào phúng trung đại thì người ta nhớ đến đầu tiên có lẽ là Trần Tế Xương. Quả thật thơ ông mang những nét trào phùng đặc biệt nhất, nó không nhẹ nhàng nhưng thâm thúy sâu cay như Nguyễn Khuyến mà nó sâu cay, cười mỉa mai trước những cái sự đời. Cũng giống như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương cũng có bài thơ tự cười mình, không chỉ cười xã hội mà ông còn cười chính bản thân mình. Và cũng chính vì thế mà Nguyễn Khuyến có bài tự trào thì Trần Tế Xương cũng có bài Thương vợ. Nhan đề bài thơ gợi lên cho ta tình cảm của nhà thơ dành cho người vợ mình nhưng đồng thời nội dung bài thơ còn thể hiện một tiếng cười về bản thân bất tài vô dụng của Trần Tế Xương.

Hai câu thơ mở đầu Trần Tế Xương đã kể lên những nỗi vất vả của người vợ thương yêu của mình. Đó là sự vất vả được hiện lên và mục đích của công việc ấy:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Hình ảnh người vợ của Trần Tế Xương hiện lên giống như những người phụ nữ, người mẹ nào trong hình dáng người phụ nữ ngày xưa với cái nghề buôn bán. Chỉ cần có thế mà biết bao nhiêu hình ảnh giản dị hay lam hay làm của người phụ nữ xưa hiện ra. Đó là hình ảnh người phụ nữ áo nâu váy đụp gánh tất cả những hàng hóa trên đôi vai nhỏ bé của mình ra chợ rồi lại từ chợ về nhà. Người vợ của nhà thơ hiện lên cũng với hình ảnh ấy và công việc ấy đặc biệt rằng công việc ấy được diễn ra thường xuyên qua hai từ “quanh năm”. Người phụ nữ ấy làm việc vất vả quanh năm cũng chỉ một công việc đó từ năm này qua năm khác. Thế nhưng địa điểm không phải trên những mặt đất bằng phẳng mà lại ở mom sông gợi sự vất vả, nguy hiểm. Như vậy vợ nhà thơ là một người không những vất vả mà còn phải đối mặt với nguy hiểm. Thế nhưng bà Tú làm như vậy để được gì, không chỉ nuôi bản thân mình mà bà Tú còn phải nuôi đủ "năm con với một chồng”. Ở đây nhà thơ đang tự cười chính bản thân mình. Chồng cũng trở thành một con số đếm ngang hàng với những đứa con trong gánh nặng của người vợ. Không những thế còn là “nuôi đủ” càng chứng tỏ gánh nặng của người vợ kia. Giờ đây quang gánh kia không chỉ đơn giản là những mặt hàng của bà nữa mà trên đó còn có cả năm con với một người chồng.

Sang hai câu thơ tiếp theo người chồng gánh nặng kia lại tiếp tục thể hiện lòng thương vợ của mình và những vất vả mà bà Tú phải trải qua hàng ngày:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

Ông chồng người mà được coi là trụ cột của gia đình không chỉ về tinh thần mà còn về kinh tế nhưng giờ đây lại là gánh nặng của vợ mình. Bà Tú phải lặn lội với những nguy hiểm khi đi vào những con đường vắng mà chỉ có một mình. Hình ảnh con cò trong câu ca dao xưa tượng trưng cho người phụ nữ nghèo khổ lại được nhà thơ sử dụng trong bài thơ của mình. Không biết rằng có biết bao nhiêu những khó khăn và nguy hiểm đang rình dập và nuốt lấy vợ mình. Vượt qua những nguy hiểm khó khăn ấy bà Tú vẫn đi đến chợ mom sông trên những buổi đò eo sèo những lời của người mua kẻ bán. Họ đang mặc cả với nhau từng đồng một để lo cho gia đình mình.

Và rồi nhà thơ nói đến duyên phận của mình với vợ và như thay vợ nói lên cái thở dài chán nản trước một người chồng mà lại gánh nặng như một người con thứ sáu trong nhà:

“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công. ”

Người xưa hay có quan niệm về duyên và nợ, hai người lấy nhau thì là có duyên có nợ từ kiếp trước, còn yêu nhau mà không lấy được nhau thì đó là có duyên nhưng không có nợ. Ở đây bà Tú lại có duyên có cả nợ với nhà thơ nên mới chịu cảnh khó khăn khổ cực như thế. Một chữ duyên, hai chữ nợ, thôi thì đành phận với nhau. Nhà thơ lại thể hiện sự vất vả của vợ mình qua “năm nắng, mười mưa”. Câu thơ ấy như gợi lên sự khó nhọc mà trong ca dao cũng nhắc đến như “một nắng hai sương”. Có thể thấy rằng chính cái số đếm cụ thể ấy đã làm nổi bật lên sự khó nhọc của bà Tú. Thế nhưng Bà Tú còn hiện lên đẹp hơn khi không quản công gánh nặng ấy. Bà thương chồng thương con và hi sinh cho chồng con mà không một lời than vãn.

Nhưng chính sự không than vãn và đức hi sinh ấy khiến cho nhà thơ không thể nào yên lòng được:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Thương vợ Trần Tế Xương cũng như đang tự cười bản thân mình và hai câu thơ cuối này là tiếng chửi to nhất, sâu cay nhất. Tác giả tự thấy bản thân mình ăn ở bạc không thể giúp đỡ được gì cho người vợ chân yếu tay mềm hơn mình rất nhiều, ngẫm thấy có chồng cũng như không. Phải chăng nhà thơ đang chửi rủa dằn vặt chính bản thân mình vì không thể nào giúp đỡ cho vợ?

Qua đây ta thấy nhà thơ Trần Tế Xương thể hiện sự thương vợ sâu sắc. Bài thơ giống như một bức thư, một dòng nhật kí mà nhà thơ muốn gửi đến vợ mình. Đặc biệt bản thân ông ý thức rõ được sự vô dụng của mình mà tự thấy xấu hổ mà tự chửi chính mình. Nói tóm lại dù thế nào đi nữa thì qua đây chúng ta cũng biết được tâm trạng và tình cảm của Trần Tế Xương dành cho vợ mình.

Tham khảo nội dung soạn văn bài Thương vợ (Tú Xương)

NHỮNG BÀI VĂN HAY CHỌN LỌC QUA CÁC KÌ THI PHÂN TÍCH, CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ THƯƠNG VỢ

Thảo luận

Lời giải 2 :

I. Đặt vấn đề

- Tú Xương là một trong những nhà thơ lớn trong nền văn thơ Việt Nam. Ông sáng tác rất nhiều về bà Tú gồm có cả thơ, văn tế, câu đối

- Chân dung bà Tú trong bài "Thương vợ" được tái hiện bằng cả tấm lòng chân thành của ông Tú

II. Giải quyết vấn đề:

* Cuộc sống khó khăn

- Hình ảnh bà Tú hiện lên trước hết gắn liền với bao nỗi vất vả gian truân khó nhọc. Thân đàn bà chân yếu tay mềm nhưng bà vẫn phải một mình làm lụng nuôi chồng và con

- Cái gian truân khó nhọc được cụ thể hoá bằng thời gian quanh năm, không gian ven sông, quãng vắng, buổi đò đông => triền miên suốt năm suốt tháng không nghỉ ngơi, lúc nào cũng đầu tắt mặt tối

- Cái vất vả của bà còn được thể hiện rõ trong gánh nặng mà bà Tú phải gánh trên vai: Nuôi đủ năm con với một chồng. Năm đứa con với bao đòi hỏi cùng với một ông chồng giàu chữ nghĩa nhưng không giúp gì được cho vợ.

* Vẻ đẹp của bà Tú: Cuộc đời nhiều gian truân vất vả ấy cũng đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của bà Tú

- Vẻ đẹp tảo tần chịu thương chịu khó. Gánh cả một gia đình trên vai lại cô đơn thui thủi một mình nhưng bà vẫn cần mẫn không một chút chểnh mảng, bỏ bê công việc, không quản ngại nắng mưa sớm hôm. So sánh hình ảnh bà Tú với con cò, Tú Xương đã khái quát được bao phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ truyền thống

- Vẻ đẹp đảm đang tháo vát ở sự chu đáo với chồng con. Cảnh làm ăn kiếm sống không dễ dàng nhưng ta thấy bà Tú không lúc nào chùn bước, chen chân giành giật chốn đò đông

- Đức hi sinh cao cả: dẫu vất vả gian lao nhưng bà Tú không một lời oán than, kêu ca phàn nàn. Một mình bà lặng lẽ âm thầm gánh gồng cả gia đình bảy miệng ăn. Đó là sự hi sinh quên mình, là tấm lòng vị tha hết mực

III. Kết thúc vấn đề:

- Hình ảnh bà Tú đã trở thành hình ảnh tiêu biểu cho người mẹ, người vợ Việt Nam từ bao đời nay.

Bạn có biết?

Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.

Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT

Tâm sự 11

Lớp 11 - Năm thứ hai ở cấp trung học phổ thông, gần đến năm cuối cấp nên học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất. Nghe nhiều đến định hướng sau này rồi học đại học. Ôi nhiều lúc thật là sợ, hoang mang nhưng các em hãy tự tin và tìm dần điều mà mình muốn là trong tương lai nhé!

Nguồn : ADMIN :))

Liên hệ hợp tác hoặc quảng cáo: gmail

Điều khoản dịch vụ

Copyright © 2021 HOCTAPSGK