1.Vị trí của Trái Đất trong hệ Mặt Trời
– Hệ Mặt trời bao gồm: Mặt trời và 8 hành tinh: sao Thủy, sao Kim, Trái Đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương.
– Trái Đất ở vị trí thứ 3 theo thứ tự xa dần Mặt Trời.
=>Ý nghĩa: Vị trí thứ ba của Trái Đất là một trong những điều kiện rất quan trọng góp phần để Trái Đất là hành tinh duy nhất có sự sống trong hệ Mặt Trời.
Hình dạng, kích thước của Trái Đất
- Hình dạng cầu và kích thước rất lớn.
- Độ dài bán kính Trái Đất: 6.370km.
- Độ dài đường Xích đạo: 40.076km.
2.Trái Đất có hai vận động:
* Vận động tự quay quanh trục:
+ Đặc điểm:
- Quay từ Tây sang Đông (ngược chiều kim đồng hồ)
- Thời gian tự động quay quanh trục là 23h56'04"
- Vận tốc quay lớn nhất ở xích đạo và giảm dần về hai cực
+ Hệ quả:
- Sự luân phiên ngày đêm do Trái Đất hình khối cầu và luôn được Mặt Trời chiếu sáng 1 nửa, sinh ra ngày đêm.
- Do Trái Đất tự quay quanh trục nên mọi nơi trên bề mặt Trái Đất đều được Mặt Trời chiếu sáng và chìm vào bóng tối→sự luân phiên ngày và đêm.
- Giờ Trái Đất và đường chuyển ngày Quốc tế do Trái Đất hình khối cầu, tự quay quanh trục nên các địa điểm thuộc kinh tuyến khác nhau có giờ khac nhau (giờ địa phương).
- Giờ quốc tế: Người ta chia Trái Đất làm 24 múi giờ mỗi múi giờ rộng 15* kinh tuyến. Giờ ở múi giờ số 0 được lấy làm giờ quốc tế.
- Sự lệch hướng chuyển động của các vật thể: lực làm lệch hướng là lực Côriôlic.
- Biểu hiện: Bắc bán cầu lệch về phía phải. Nam bán cầu lệch về phía trái.
- Nguyên nhân: Do vận động tự quay của Trái Đất từ Tây sang Đông với vận tốc khác nhau ở các vĩ độ.
- Lực Côriôlic tác động đến sự chuyển động các khối khí, dòng biển, dòng sông, đường đạn bay trên bề mặt Trái Đất.
* Vận động quay quanh Mặt Trời của Trái Đất:
+ Đặc điểm:
- Trái Đất quay quanh Mặt Trời theo quỹ đạo hình Elip.
- Trong chuyển động trục Trái Đất luôn nghiêng 1 góc 66*33' so với mặt phẳng quỹ đạo.
- Quay theo hướng từ Tây sang Đông.
- Thời gian Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời: 365 ngày và 6 giờ 56 phút 48 giây.
- Trái Đất đến gần Mặt Trời nhất vào ngày 3 tháng 1 ( điểm cận nhật) với khoảng cách 147 km ( vận tốc 30,3 km/s), xa Mặt Trời nhất vào ngày 5 tháng 7 ( điểm viễn nhật) với khoảng cách 152 km ( vận tốc 29,3 km/s).
- Tốc độ chuyển động trung bình là 29,8 km/s.
+ Hệ quả:
- Chuyển động biểu kiếm hằng năm của Mặt Trời: là chuyển động bằng mắt nhưng không có thật.
- Nguyên nhân: do trục Trái Đất nghiêng và không đổi hướng khi chuyển động quanh Mặt Trời.
- Hiện tượng mùa: là khoảng thời gian trong năm có đặc điểm riêng về thời tiết, khí hậu có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông và hai bán cầu trái ngược nhau.
- Nguyên nhân: do trục Trái Đất nghiêng và không đổi hướng nên Bắc bán cầu và Nam bán cầu lần lượt ngả về phía Mặt Trời khi đang chuyển động trên quỹ đạo.
* Hiện tượng ngày dài đêm ngắn khác nhau theo mùa:
- Từ ngày 21 tháng 3 đến ngày 23 tháng 9: Bắc bán cầu ngả về phía Mặt Trời: mùa xuân, hạ ở bắc bán cầu ngày dài hơn đêm và Nam bán cầu mùa thu, đông đêm dài hơn ngày.
- Từ ngày 23 tháng 9 đến ngày 21 tháng 3: Nam bán cầu ngả về phía Mặt Trời: mùa xuân, hạ ở Nam bán cầu ngày dài hơn đêm và Bắc bán cầu mùa thu, đông đêm dài hơn ngày.
- Riêng 2 ngày 21 tháng 3 và 23 tháng 9: thì Mặt Trời vuông góc với xích đạo nên ngày dài hơn đêm.
- Ở xích đạo quanh năm ngày đêm dài bằng nhau, càng xa xích đạo độ dài ngày đêm càng chênh lệch.
- Từ vòng cực> cực có hiện tượng ngày đêm 24h càng gần cực số ngày đêm địa cực càng lớn.
- Ở hai cực ngày đêm dài 24h kéo dài 6 tháng.
3.Vào ngày 22/6 bán cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời nên được chiếu sáng nhiều nhất, ánh sáng Mặt Trời chiếu thẳng góc vào vĩ tuyến 23027' B → vĩ tuyến đó gọi là chí tuyến Bắc
- Vào ngày 22/12, bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời nên được chiếu sáng nhiều nhất ánh sáng Mặt Trời chiếu thẳng góc với vĩ tuyến 23027'N → vĩ tuyến đó gọi là chí tuyến Nam.
- Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn ở những địa điểm có vĩ độ khác nhau, càng xa xích đạo về phía hai cực, càng biểu hiện rõ rệt.
+ Tại đường xích đạo quanh năm ngày, đêm dài bằng nhau.
+ Càng lên vĩ độ cao chênh lệch độ dài ngày - đêm càng lớn, từ 66033’đến cực có ngày hoặc đêm địa cực dài 24 giờ.
+ Ngày 22//6 (Hạ chí): bán cầu Bắc có ngày dài hơn đêm, càng về xích đạo chênh lệch ngày – đêm càng lớn, từ 66033’đến cực có ngày địa cực dài 24 giờ.
+ Ngày 22/12 (Đông chí): bán cầu Nam có ngày dài hơn đêm, càng về xích đạo chênh lệch ngày – đêm càng lớn, từ 66033’đến cực có ngày địa cực dài 24 giờ.
+ Ngày 21/3 và ngày 23/9: ánh sáng Mặt Trời chiếu thẳng góc vào xích đạo. Hai nửa cầu Bắc và Nam nhận được ánh sáng như nhau.
4.Cấu tạo bên trong Trái Đất.
Gồm 3 lớp:
- Lớp vỏ (từ 5-70km): Mỏng nhất, quan trọng nhất, vật chất trạng thái rắn, nhiệt độ tăng dần từ ngoài vào sâu bên trong (tối đa 10000C).
- Lớp trung gian (từ 70-3000km): có thành phần ở trạng thái từ quánh dẻo đến lỏng, nhiệt độ từ 15000C – 47000C.
- Lớp lõi (dày nhất, trên 3000km): lỏng ở ngoài, rắn ở trong, nhiệt độ cao nhất khoảng 50000C.
5. Tỉ lệ bản đồ cho ta biết khoảng cách trên bản đồ đã thu nhỏ bao nhiêu lần so với kích thước thực của chúng trên thực tế. -Tỉ lệ bản đồ cho biết bản đồ đó được thu nhỏ bao nhiêu so với thực địa. -Tỉ lệ bản đồ càng lớn thì mức độ chi tiết của bản đồ càng cao.
6.
- Giống nhau: Đều là lực tác động lên Trái Đất
- Khác nhau:
+ Ngoại lực là những lực được sinh ra ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất như các nguồn năng lượng của gió, mưa, băng, nước chảy, sóng biển… thông qua 4 quá trình liên quan tới nhau phong hoá, bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ.
+ Các quá trình nây làm cho bề mặt TĐ theo xu hướng phẳng lại.
Nguyên nhân chủ yếu sinh ra ngoại lực là do nguồn năng lượng bức xạ của Mặt Trời.
+ Nội lực là lực được sinh ra ở bên trong Trái Đất thông qua các quá trình vận động, có xu hướng làm bề mặt TĐ nhô lên.
+ Nguyên nhân chủ yếu sinh ra nội lực là các nguồn năng lượng trong lòng Trái Đất, như: năng lượng của sự phân huỷ các chất phóng xạ, sự chuyển dịch và sắp xếp lại vật chất cấu tạo Trái Đất theo trọng lực, sự ma sát vật chất…
7. Một số dạng địa mạo điển hình là đồi, núi, cao nguyên, hẻm núi và thung lũng, cũng như các đặc điểm đường bờ biển như vịnh, bán đảo và biển, bao gồm các đặc điểm chìm như sống núi giữa đại dương, núi lửa và lòng chảo đại dương lớn.
1/
- Trái đất nằm ở vị trí thứ 3 theo thứ tự xa dần Mặt Trời
- Trái Đất có dạng hình cầu
- Trái đất có bán kính 6370km
2/
- Trái đất quay quanh một trục tưởng tượng nối liền hai cực và nghiêng 66 độ 33 phút trên mặt phẳng quỹ đạo.Trái đất quay quanh trục theo hướng từ tây sang đông.Thời gian trái đất quay quanh trục trong 1 ngày đêm được quy ước là 24h.
- Ngoài sự vận động quanh trục trái đất còn chuyển động quanh mặt trời theo 1 quỹ đạo có hình elip gần tròn.Khi chuyển động quanh mặt trời trái đất đồng thời vẫn tự quay quanh trục.Thời gian trái đất chuyển quanh mặt trời 1 vòng là 365 ngày 6h.Trong khi chuyển động trên quỹ đạo quanh mặt trời Trái đất lúc nào cũng giữ nguyên độ nghiêng và hướng nghiêng của trục không đổi. Sự chuyển động đó gọi là sự chuyển động tịnh tiến.
- Hệ quả 1:Nhờ có sự chuyển động tự quay của trái đất từ tây sang đông nên ở khắp mọi nơi trên trái đất đều lần lượt có ngày và đêm.
- Hệ quả 2: Nếu nhìn xuôi theo chiều chuyển động thì ở nửa cầu Bắc vật chuyển động sẽ lệch về bên phải,còn ở nửa cầu Nam lệch về phía bên trái.
3/
- Khi chuyển động tịnh tiến quanh mặt trời có lúc nửa cầu Nam ngả về phía Mặt trời có lúc nửa cầu Bắc ngả về phía mặt trời.
-Nửa cầu nào ngả về phía mặt trời thì có mùa nóng(mùa hạ),nửa cầu còn lại có mùa lạnh(mùa đông).
- Sự phân bố ánh sáng, lượng nhiệt và cánh tính mùa ở hai nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam hoàn toàn trái ngược nhau.
- Mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp của mùa nóng và mùa lạnh.
4/Cấu tạo bên trong của trái đất :
- Lớp vỏ trái đất:có độ dày từ 5km đến 70km,trạng thái rắn chắc,nhiệt độ càng xuống sâu nhiệt độ càng cao nhưng tối đa chỉ tới 1000 độ C
- Lớp trung gian:có độ dày gần 3000km trạng thái từ quánh dẻo đến lỏng nhiệt độ khoảng 1500 đến 4700 độ C
- Lõi trái đất:độ dày trên 3000km trạng thái ở ngoài lỏng ở trong rắn nhiệt độ cao nhất là khoảng 5000 độ C
5/ Dựa vào tỉ lệ bản đồ chúng ta có thể biết được các khoảng cách trên bản đồ đã thu nhỏ bao nhiêu lần so với kích thước thật của chúng trên thực địa.
6/
-Nội lực: là những lực sinh ra ở bên trong trái đất tác động nén ép các lớp đất đá làm cho chúng đứt gãy uốn nếp sinh ra động đất hoặc núi lửa
-Ngoại lực: là những lực sinh ra bên ngoài bề mặt trái đất có hai quá trình là phong hóa và xâm thực do gió do nước chảy.
7/ Địa hình trái đất rất đa dạng:có nơi cao ,có nơi thấp, nơi gồ ghề, nơi bằng phẳng.
Địa lí học (trong tiếng Hy Lạp γεωγραφία, geographia, nghĩa là "mô tả Trái Đất") là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên Trái Đất. Dịch sát nghĩa sẽ là "nhằm mô tả hoặc viết về Trái Đất".
Nguồn : Wikipedia - Bách khoa toàn thưLớp 6 - Là năm đầu tiên của cấp trung học cơ sở. Được sống lại những khỉ niệm như ngày nào còn lần đầu đến lớp 1, được quen bạn mới, ngôi trường mới, một tương lai mới!
Nguồn : ADMIN :))Xem thêm tại https://loigiaisgk.com/cau-hoi or https://giaibtsgk.com/cau-hoi
Copyright © 2021 HOCTAPSGK