Trang chủ Sinh Học Lớp 8 Dựa trên sự thông khí ở phổi giải thích cơ...

Dựa trên sự thông khí ở phổi giải thích cơ sở khoa học của trình tự các bước sơ cứu người bị chết đuối. Các biện pháp hạn chế người bị chết đuối ở địa phương n

Câu hỏi :

Dựa trên sự thông khí ở phổi giải thích cơ sở khoa học của trình tự các bước sơ cứu người bị chết đuối. Các biện pháp hạn chế người bị chết đuối ở địa phương nói chung và lứa tuổi học trò

Lời giải 1 :

Đáp án:

Nguyên tắc này cần khẩn trương, đúng phương pháp với mục đích cấp cứu là giải phóng đường thở và cung cấp ôxy cho nạn nhân. Do vậy việc làm đầu tiên cần đưa nạn nhân ra khỏi nước:

Nếu nạn nhân còn tỉnh giãy giụa dưới nước, ném cho nạn nhân một cái phao, một khúc gỗ, hoặc một sợi dây để giúp họ lên bờ. Không nên nhảy xuống nước nếu không biết bơi, hoặc không được huấn luyện cách đưa người đuối nước còn tỉnh lên bờ. Vì nạn nhân lúc này trong tình trạng hoảng loạn, dễ níu chặt lấy bất cứ thứ gì với được, kể cả người cứu nạn. Khi cấp cứu nạn nhân ngay ở dưới nước cần phải nâng đầu nạn nhân nhô lên khỏi mặt nước, có động tác để giúp cho nạn nhân trấn tĩnh và thở.

Nếu nạn nhân bất tỉnh dưới nước (chỉ xuống cứu khi người cứu biết bơi). Nếu không thì gọi người hỗ trợ hoặc dùng thuyền nếu có để ra cứu.

Ngay sau khi đưa được nạn nhân vào bờ, cần tiến hành cấp cứu tại chỗ. Đặt nạn nhân ở tư thế nằm ngửa trên mặt phẳng cứng. Nếu bệnh nhân tím tái, không thể tự thở, tim ngừng đập (sờ mạch không có) và không có bất cứ phản xạ nào thì phải ấn tim ngoài lồng ngực. Dùng hai tay chồng lên nhau đặt ngay vào vị trí một nửa dưới xương ức và ấn tim với tần số ép khoảng 100 lần/1 phút, đồng thời phải khai thông đường thở bằng cách dùng gạc hay khăn vải móc đờm dãi, dị vật khỏi miệng nạn nhân và hà hơi thổi ngạt, hô hấp nhân tạo với phương pháp miệng thổi miệng cho nạn nhân.

Nếu chỉ có một người tiến hành sơ cấp cứu, thì ấn tim ngoài lồng ngực 15 – 30 nhịp, sau đó hà hơi thổi ngạt 2 lần và tiếp tục lặp lại việc ấn tim ngoài lồng ngực với chu kỳ 15 – 30 lần ấn tim, 2 lần hà hơi thổi ngạt. Nếu có hai người cấp cứu thì một người ấn tim ngoài lồng ngực, một người hà hơi thổi ngạt, kiên trì thực hiện cho đến khi nạn nhân hồi tỉnh trở lại hoặc cho đến khi nạn nhân được đưa đến cơ sở y tế gần nhất.

Giải thích các bước giải:

 

Thảo luận

Lời giải 2 :

1. Cách sơ cứu đuối nước

Sơ cứu tại chỗ và đúng kỹ thuật là quan trọng nhất, quyết định sự sống còn hay di chứng não của nạn nhân.
Để cứu sống nạn nhân ngạt nước phải ngăn chặn kịp thời các tiến trình trên, tốt nhất là ngay từ khi có cơn ngừng thở đầu tiên tức là trong vòng 1- 4 phút đầu tiên khi bị chìm trong nước, đồng thời xử lý tốt các chấn thương kèm theo (đặc biệt là chấn thương đầu cổ và cột sống).

Cách sơ cứu đúng như sau:

  • Nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi mặt nước bằng cách đưa cánh tay, cây sào dài cho nạn nhân nắm, ném phao hoặc vớt nạn nhân lên
  • Đặt nạn nhân nằm chỗ khô ráo, thoáng khí
  • Nếu nạn nhân bất tỉnh hãy kiểm tra xem nạn nhân còn thở hay không bằng cách quan sát sự di động của lồng ngực:
    + Nếu lồng ngực không di động tức là nạn nhân ngưng thở, hãy tiến hành ấn tim ngoài lồng ngực ở nửa dưới xương ức. Phối hợp ấn tim và thổi ngạt theo tỉ lệ 15/2 (2 cấp cứu viên) hoặc 30/2 (1 cấp cứu viên) trong 2 phút rồi đánh giá lại xem nạn nhân có thở lại được không? Môi có hồng không? Có phản ứng khi lay gội kích thích đau không? Nếu không và phải tiếp tục các động tác cấp cứu này ngay cả trên đường chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế.
    + Nếu nạn nhân còn tự thở, hãy đặt nạn nhân ở tư thế an toàn là nằm nghiêng một bên để chất nôn dễ thoát ra ngoài nếu nạn nhân nôn ói
  • Cởi bỏ quần áo ướt và giữ ấm bằng cách đắp lên người nạn nhân bằng chăn hay một tấm khăn khô
  • Nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế ngay cả khi nạn nhân có vẻ như bình thường hoặc đã hồi phục hoàn toàn sau sơ cứu vì nguy cơ khó thở thứ phát có thể xảy ra vài giờ sau ngạt nước

Sơ cứu đuối nước tại chỗ cần đúng cách và kịp thời

2. Những việc cần tránh làm khi bị đuối nước

  • Phần lớn các nạn nhân bị ngạt nước khi đưa đến cấp cứu tại các bệnh viện không được sơ cứu hay sơ cứu không đúng cách dẫn đến tử vong hoặc di chứng não do thiếu oxy. Các cách sơ cứu không đúng bao gồm:
    + Bỏ nhiều thời gian cho việc xốc nước: động tác dốc ngược nạn nhân không cần thiết và không nên thực hiện vì thường lượng nước vào phổi rất ít chứ không phải phổi chứa đầy nước như người dân thường nghĩ. Lượng nước rất ít này sẽ được tống ra ngoài khi nạn nhân tự thở lại. Ngoài ra việc xốc nước còn làm chậm thời gian cấp cứu thổi ngạt và tăng nguy cơ hít sặc.
    + Lăn lu: cho trẻ nằm sấp trên cái lu được để rơm nung cháy bên trong lăn lu qua lại nhằm mục đích “rút nước” trong cơ thể trẻ ra. Phương pháp này không hiệu quả, còn gây phỏng cho trẻ.
    + Các nạn nhân ngưng thở ngưng tim không được cấp cứu thổi ngạt và ấn tim tại nơi xảy ra tai nạn hoặc trong lúc vận chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế. Điều này làm cho não và các cơ quan thiếu oxy kéo dài, chết tế bào não dẫn tới tử vong và di chứng não nặng nề. Vì thế tốt nhất là phải cấp cứu thổi ngạt ngay khi đưa đầu nạn nhân lên khỏi mặt nước trước khi đưa vào bờ.

3. Những yếu tố sau đây làm tăng nguy cơ ngạt nước

  • Không biết bơi hoặc tự đánh giá cao khả năng bơi lội của mình.
  • Các hành vi nhiều rủi ro như tắm sông, chơi ở trên bờ ao hồ...
  • Thiếu sự giám sát của người lớn.
  • Hạ thân nhiệt dẫn đến suy kiệt nhanh, không đủ sức bơi.
  • Không phát hiện được loạn nhịp tim nguyên phát. Ví dụ ngâm mình trong nước lạnh có thể gây ra tử vong ở những bệnh nhân có hội chứng QT kéo dài bẩm sinh type 1.
  • Ở trẻ lớn có thể do uống rượu, sử dụng ma túy...
  • Chấn thương, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.
  • Tăng thông khí trước khi nhảy xuống nước làm giảm PaCO2, trong khi đó PaO2 giảm còn 30 – 40 mmHg do tiêu thụ. Vì PaCO2 giảm nên không kích thích được hô hấp. điều này gây ra thiếu oxy não, co giật, mất ý thức dẫn đến chết đuối.

Không biết bơi làm tăng nguy cơ ngạt nước

4. Tiên lượng xấu của bệnh

  • Thời gian chìm dưới nước > 5 phút
  • Glasgow lúc vào < 5 điểm
  • Đồng tử giãn, mất phản xạ ánh sáng
  • Ngừng tim, ngừng thở lúc vào viện
  • pH máu lúc vào viện < 7

5. Xử trí5.1 Cấp cứu tại chỗ

  • Mục tiêu chính: hồi sinh tim phổi
  • Nhanh chóng đưa bệnh nhân lên khỏi mặt nước
  • Lấy dị vật (nếu có) và tiến hành hô hấp nhân tạo ngay.
  • Tiến hành ép tim ngoài lồng ngực càng sớm càng tốt nếu ngừng tim

Nếu tổn thương cột sống cổ: cần cố định và thận trọng khi di chuyển

Nhanh chóng vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện:

+ Tiếp tục duy trì hồi sinh tim phổi (nếu cần)

+ Cho thở oxy nếu bệnh nhân tự thở được

5.2 Tại bệnh viện

Đánh giá hiệu quả cấp cứu ban đầu

Điều trị suy hô hấp và các tổn thương kèm theo:

  • Đảm bảo thông khí và Oxy

Thở máy + PEEP hoặc thở CPAP nếu bệnh nhân tự thở được (tác dụng làm giảm shunt trong phổi và giảm phù phổi).

Mục tiêu: PaO2 > 80 mmHg, PaCO2 = 30-35 mmHg

*Lưu ý: phải giảm PEEP từ từ khi muốn bỏ PEEP, vì cắt PEEP đột ngột dễ gây phù phổi tái phát.

Trường hợp nhẹ:

Nằm nghỉ tại giường 24 - 48h (phòng phù phổi muộn do suy tim)

Thở oxy, theo dõi SpO2 và khí máu

Thuốc giãn phế quản nếu có co thắt phế quản

Tại cơ sở y tế, người đuối nước cần được đảm bảo thông khí và Oxy

  • Đảm bảo huyết động

Nên hạn chế dịch khoảng 1-1,5 lít/24 h

Nếu có trụy mạch:

+ Đặt catheter TMTT

+ Bù dịch dựa theo áp lực TMTT

+ Nếu HA vẫn thấp: dobutamin + dopamin và có thể phối hợp thêm các thuốc co mạch khác (adrenalin, noradrenalin)

Không nên cho lasix khi đang có giảm thể tích máu và cô đặc máu.

  • Chống phù não và co giật:
  • Nằm cao đầu 30o
  • Cho thở tăng thông khí
  • Tránh truyền nhiều dịch và có thể dùng lasix
  • Mannitol 20 % 1 g/kg truyền TM trong 15 phút / mỗi 6 h
  • Dùng Phenobarbital tiêm bắp hoặc Thiopental truyền TM (không nên dùng quá 48 giờ)
  • Cũng có thể dùng benzodizepam và phenytoin để khống chế cơn giật
  • Các động tác và biện pháp khác
  • Đặt sonde dạ dày, hút dịch dạ dày
  • Sưởi ấm nếu có hạ thân nhiệt, đưa nhiệt độ lên trên 34o C
  • Nếu sốt cao: paracetamol + chườm lạnh đầu và cổ
  • Ghi ECG, XQuang phổi, xét nghiệm khí máu, sinh hoá máu, CPK, hemoglobin niệu
  • Bicacbonat nếu toan chuyển hóa nặng
  • Chú ý điều chỉnh đường máu
  • Heparin phân tử lượng thấp phòng huyết khối
  • Kháng sinh nếu có viêm phổi do hít sặc

Corticosteroid: không được khuyến cáo dùng

Người đuối có thể được ghi ECG theo dõi nhịp tim tại cơ sở y tế

6. Phòng ngừa đuối nước

Vấn đề phòng ngừa ngạt nước rất quan trọng. Theo thống kê tại Bệnh viện Nhi đồng 1, các trường hợp ngạt nước do té vào ao, sông gần nhà, các dụng cụ chứa nước trong nhà như lu khạp, xô nước, ... chiếm khoảng 20% và đa số ở trẻ < 5 tuổi. Do đó, cần phải giáo dục hướng dẫn các bậc cha mẹ cách bảo quản tốt các dụng cụ chứa nước trong nhà.
Ngoài ra cần ngăn cấm trẻ tắm sông, ao, hồ, biển, ... hoặc những nơi không người quản lý trông nom trẻ. Hơn nữa, cần quản lý chặt chẽ trẻ em tắm tại các hồ bơi, các cứu hộ viên nên làm việc tích cực và phải được hướng dẫn cách sơ cứu ngạt nước cho cả người lớn và trẻ em.

Tại trường học, cần có kế hoạch giáo dục và huấn luyện thực tập bơi lội cho học sinh:

  • Không để trẻ nhỏ một mình ở nhà, đậy kín các vật chứa nước trong nhà
  • Không cho trẻ chơi một mình gần ao, hồ, kênh, rạch, sông: luôn có người lớn đi theo
  • Không cho bệnh nhân động kinh bơi
  • Nên hướng dẫn tập bơi, cho trẻ học bơi
  • Nhà trường lưu ý dặn dò học sinh cuối năm nghỉ hè về vấn đề đi bơi, hay chèo thuyền vùng sông nước rất nguy hiểm, không an toàn, cần có sự giám sát.
  • Đội cứu hộ lưu động: việc tổ chức các đội, nhóm cấp cứu lưu động là rất cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay của nước ta khi trình độ dân trí chưa cao, người dân còn quá nhiều sai lầm trong sơ cứu ngạt nước dẫn đến những hậu quả đáng tiếc cho trẻ và gia đình

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

 7.5K

Bài viết hữu ích?Chủ đề: nhi khoa Thở máy Hô hấp nhân tạo Bơi lội Sơ cứu đuối nước Đuối nước Ngạt nướcBài viết liên quan

  • Cấp cứu ngạt nước

    Ngạt nước có thể gặp ở bất cứ đối tượng nào, ngay cả những người bơi thành thạo cũng có thể bị đuối nước. Nếu không được cấp cứu kịp thời, xử lý đúng cách thì tỷ lệ tử vong ...

    Đọc thêm
  • Xử trí an toàn dị vật đường thở ở trẻ em

    Dị vật đường thở là một loại tai nạn sinh hoạt thường bắt gặp ở trẻ nhỏ, có thể dẫn đến tử vong hoặc gây ra nhiều di chứng nặng nề cho con trẻ. Do đó, xử trí an toàn ...

    Đọc thêm
  • Nên dạy trẻ những quy tắc an toàn nào về nước?

    Gia đình luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy trẻ em tầm quan trọng của việc dạy trẻ biết bơi và an toàn khi đi bơi. Nếu trẻ không thể tham gia các lớp học bơi chính ...

    Đọc thêm
  • Những điều cần biết về thuốc hạ sốt đút hậu môn cho trẻ

    Thuốc hạ sốt đút hậu môn hay còn gọi là thuốc viên đạn, là một dạng thuốc hạ sốt được bào chế dưới dạng hình viên đạn hoặc hình thủy lôi cung dùng để hạ sốt qua đường hậu môn ...

    Đọc thêm
  • Sốt kéo dài ở trẻ là bệnh gì? Nên xử trí như thế nào?

    Sốt kéo dài là hiện tượng sốt kéo dài liên tục quá 3 ngày. Nếu trẻ sốt kéo dài hoặc sốt kéo dài liên tục sẽ làm cho trẻ mệt mỏi do mất nước, rối loạn điện giải và có ...

    Đọc thêm

Bác sĩ chuyên khoa II Lê Thanh CẩmKhoa Nhi - Sơ sinh - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà NẵngXem thông tin bác sĩ ĐĂNG KÝ KHÁM

Đặt hẹn ngay để nhận tư vấn và xếp lịch khám kịp thời

  Chọn địa điểm gần bạn nhất  Hà NộiHồ Chí MinhPhú QuốcNha TrangHạ LongHải PhòngĐà NẵngGỬI YÊU CẦUCó thể bạn quan tâm

  • Sơ cứu đuối nước đúng cách ở trẻ em
  • 'Đuối nước khô' là gì?
  • Các bước sơ cứu ban đầu trẻ bị đuối nước
  • Hậu quả của đuối nước và các biện pháp phục hồi chức năng
  • Du khách Choi Yoon Hi (Hàn Quốc): Bác sĩ Vinmec Nha Trang đã cho tôi cuộc sống lần nữa

 

Bạn có biết?

Sinh học hay sinh vật học (tiếng Anh: biology bắt nguồn từ Hy Lạp với bios là sự sống và logos là môn học) là một môn khoa học nghiên cứu về thế giới sinh vật. Nó là một nhánh của khoa học tự nhiên, tập trung nghiên cứu các cá thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường. Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật (ví dụ: cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi trường sống), cách thức các cá thể và loài tồn tại (ví dụ: nguồn gốc, sự tiến hóa và phân bổ của chúng).

Nguồn : Wikipedia - Bách khoa toàn thư

Tâm sự 8

Lớp 8 - Năm thứ ba ở cấp trung học cơ sở, học tập bắt đầu nặng dần, sang năm lại là năm cuối cấp áp lực lớn dần nhưng các em vẫn phải chú ý sức khỏe nhé!

Nguồn : ADMIN :))

Liên hệ hợp tác hoặc quảng cáo: gmail

Điều khoản dịch vụ

Copyright © 2021 HOCTAPSGK