Tôi chưa về con sông quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá tay xuyên chỉ
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên
(Người con gái chằm nón bài thơ – Nguyễn Khoa Điềm)
Nón lá là hình ảnh bình dị, thân quen, gần gũi gắn liền với tà áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Từ xưa tới nay, nhắc đến Việt Nam du khách nước ngoài vãn thường trầm trồ khen ngợi hình ảnh chiếc nón lá – tượng trưng cho sự thanh tao của người phụ nữ Việt. Nón lá đã đi vào ca dao, dân ca và làm nên văn hóa tinh thần lâu đời của người Việt Nam.
Chiếc nón lá có một lịch sử rất lâu đời, hình ảnh tiền thân của chiếc nón lá đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng Đào Thịch vào khoảng 2500-3000 năm TCN. Từ xa xưa, nón lá đã hiện diện trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam trong cuộc chiến đấu giữ, qua nhiều chuyện kể và tiểu thuyết. Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt và lịch sử hình thành lâu dài, cho đến ngày nay đã chứng tỏ được sự bền vững của sản phẩm này.
Để tạo ra chiếc nón lá cần sự tỉ mỉ và kì công của người làm nón. Phải có cái tâm, cái tình thì mới tạo nên những chiếc nón có thiết kế tài tình và họa tiết tỉ mỉ như vậy.
Để làm được một chiếc nón lá đẹp, người làm nón phải tỉ mỉ từ khâu chọn ra lá, phơi lá, chọn chỉ đến độ tinh xảo ttrong từng đường kim, mũi chỉ. Lá có thể dùng là lá dừa hoặc lá cọ. Để có được lá dùa làm nón phải mua từ trong Nam. Lá chuyển về là lá khô. Để lá có độ bền về thời gian cũng như màu sắc phải chọn lọc, phân loại lá và đem xử lý. Dẫu chọn lá có công phu thế nào thì làm nón bằng lá dừa vẫn không thể tinh xảo và đẹp bằng làm nón bằng lá cọ. Làm nón bằng lá cọ ta phải công phu hơn rất nhiều, lá phải non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá phải trắng xanh. Nếu lá trắng và găn lá cũng trắng thì lá đã già và làm nón không đẹp. Một chiếc nón lá đạt tiêu chuẩn phải có màu xanh nhẹ, mặt lá phải bóng, khi nón đan lên phải nổi những gân lá màu xanh đẹp mắt. Để đạt tiêu chuẩn ấy thì phải tuân thủ đúng qui trình. Sấy khô phải sấy trên bếp than ( không phơi nắng), sau đó lại phơi sương tiếp từ 2-4h cho lá mềm. Rồi dùng một búi vải và một miếng gang đặt lên bếp than có độ nóng vừa phải để ủi sao cho từng chiếc lá được phẳng. Mỗi chiếc lá đều được chọn lựa kĩ càng và cắt cùng độ dài là 50cm (lá cọ).
Công đoạn thứ hai là chuốt vành, với cây mác sắt người làm nón chuốt từng nan tre sao cho tròn và có đường kính rất nhỏ, thường chỉ nhỉnh hơn que tăm một chút. Sau đó uốn những nan tre này thành những vòng tròn thật đều và bóng bẩy từ nhỏ đến lớn. Mỗi cái nón sẽ cần 16 nan tre uốn thành vòng tròn, đặt từ nhỏ tới lớn vào một cái khung bằng gỗ có hình chóp. Sau đó, người thợ sẽ xếp lá lên khung, người xếp lá phải khéo và đều tay không để các phiến lá chồng lên nhau hay xô lệch.
Kể về quá trình làm nón mà không kể đến nón bài thơ xứ Huế là một thiếu xót. Đặc biệt nón bài thơ của xứ Huế rất mỏng vì chỉ có 2 lớp: lớp lá trong gồm 20 lá, lớp lá ngoài gồm 30 lá và lớp bài thơ được đặt ở giữa. Khi xây lá lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp hay xô lệch để nón đạt được sự thanh mỏng. Khi soi lên ánh nắng, ta đọc được bài thơ, nhìn rõ hình ảnh cầu Tràng Tiền hay chùa Thiên Mụ. Chính những chi tiết này đã tạo nên nét đặc biệt cho nón bài thơ xứ Huế.
Sau khi xếp lá cho đều và ngay ngắn lên vành, người ta bắt đầu chằm nón. Nón được chằm bằng sợi nilong dẻo và dai, săn chắc và có màu trắng trong suốt. Các lá nón không được xộc xệch, đường kim mũi chỉ phải đều tăm tắp. Khi nón đã chằm hoàn tất, người ta đính thêm vào chóp nón một cái xoài được làm bằng chỉ láng bóng để làm duyên cho chiếc nón. Sau đó mới phủ lên nón lớp dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp, vừa bền.
Ở vòng tròn lớp bằng nan tre dưới đáy hình chóp, khoảng nan thứ 3, thứ 4 người ta sẽ dùng chỉ kết đối xứng hai bên để buộc quai. Quai nón thường được làm bằng lụa, nhung,… với màu sắc tươi tắn càng làm tăng nét duyên cho người đội nón.
Chiếc nón lá trải đi theo khắp nẻo đường Việt Nam và trở thành thân quen trong đời sống thường nhật của người phụ nữ. Chiếc nón lá chính là người bạn thủy chung với người dân lao độn dùng để đội đầu, che mưa, che nắng khi ra đồng, ra chợ, là chiếc quạt xua đi những giọt mồ hôi dưới nắng hè gay gắt. Nó còn là vật làm duyên, tăng nét nữ tính của người phụ nữ. Buổi sáng tan trường, hình ảnh những cô nữ sinh với tà áo dài trắng tinh khôi, nghiêng nghiêng dưới vành nón lá và núm đồng tiền làm duyên càng thêm duyên. Nó làm say lòng và là cảm hứng của bao thi nhân, nghệ sĩ…Trong tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài và nón thể hiện nét dịu dàng, mềm mại, kín đáo của người phụ nữ Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều và nhận được những tràng pháo tay tán thưởng của khán giả. Chiếc nón lá còn trở thành món quà lưu niệm được nhiều du khách ưa chuộng mỗi khi đến Việt Nam
Muốn nón lá được bền lâu thì chỉ nên đội trời nắng, tránh đi mưa. Sau khi dùng nên cất vào chỗ bóng râm, không phơi ngoài nắng bởi sẽ làm cong vành, lá nón giòn và ố vàng, làm mất tính thẩm mĩ và giảm tuổi thọ của nón.
Chiếc nón lá là biểu tượng của người phụ nữ Việt, gắn với đời sống tinh thần của họ. Đi tới đâu trên mảnh đất này, chúng ta cũng sẽ bắt gặp hình ảnh chiếc nón lá. Đó là nét đẹp, nét duyên của người phụ nữ Việt mà không phải đất nước nào cũng có được. Nón lá đã gắn liền với tà áo dài, tạo nên một vẻ đẹp rất Việt Nam. Nó là biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam.
Tham khảo nhé!
Chiếc nón lá mộc mạc, giản dị, đơn sơ là một người bạn rất gần gũi thân thiết trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Việt Nam. Nón lá từ lâu đã trở thành một nét đẹp truyền thống, trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam, đi vào nhiều bài ca dao và thơ ca, nhạc họa.
Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời, gắn với quá trình phát triển của dân tộc. Hình ảnh của nón lá đã xuất hiện trên trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịch từ khoảng 2500-3000 năm TCN. Người Việt cổ từ xưa đã biết lấy lá buộc lại làm vật che mưa, che nắng. Nón từ xưa đã được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến.
Đi khắp đất nước Việt Nam xinh đẹp, đâu đầu ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh chiếc nón. Chiếc nón nhìn đơn giản là thế nhưng để tạo ra một chiếc nón đẹp đòi hỏi bàn tay công phu, khéo léo của người làm. Làm nón phải tỉ mỉ từ khâu đầu tiên là chọn lá, phơi lá. Nón lá thường được làm từ lá cọ. Lá không được quá non cũng như quá già. Trước khi đưa vào làm nón, lá phải được phơi nắng cho thật khô, thật mềm và giữ được lâu. Sau đó lá sẽ được mang đi sấy trắng. Những chiếc lá trắng nhất được dùng để làm những chiếc nón tinh xảo nhất, giá bán thường cao hơn những chiếc khác. Ngoài lá nón, vành nón cũng là bộ phận hết sức quan trọng của chiếc nón. Vành nón chính là xương sống của nón. Vành nón được làm từ những thanh lứa khô và dẻo. Dưới bàn tay khéo léo của con người, những thanh lứa ấy được vót thật tròn và mịn. Sau đó được uốn thành những vòng tròn có đường kính to, nhỏ khác nhau. Các vành nón được xếp lên khuôn nón. Một chiếc nón có 16 vòng tất cả, vòng to nhất có đường kính khoảng 50cm, những vòng tiếp theo càng lên đỉnh càng nhỏ dần, vòng nhỏ nhất chỉ bằng đồng xu. Vành nón phải đều tăm tắp, không được méo mó, xộc xệch thì mới tạo ra được những chiếc nón đẹp. Sau công đoạn xếp vành lên khuôn là công đoạn xếp lá. Người thợ thủ công lấy từng chiếc lá, làm cho phẳng rồi xếp ngay ngắn lên khung nón. Mỗi chiếc nón gồm có 2 lớp lá, có một lớp mo lang ở giữa. Sau khi đã có một bộ khung hoàn hảo, cuối cùng là bước khâu nón bằng kim và cước mỏng như sợi chỉ. Những đường kim mũi chỉ lên xuống nhịp nhàng sẽ gắn chặt lá nón và vành lại với nhau. Công đoạn này đỏi hỏi người làm phải thật tỉ mỉ để khâu nón cho đẹp cũng như không bị mũi kim đâm vào tay. Chiếc nón hoàn thành xong được quét một lớp dầu bóng để thêm bền và tăng tính thẩm mĩ. Quai nón được buộc đối xứng ở hai bên. Quai nón thường làm từ nhung, lụa hay chỉ với những màu sắc: cam, đỏ, hồng, tím…
Nón đã trở thành môt người bạn hết sức gần gũi hằng ngày. Nón không chỉ che nắng, che mưa mà còn giúp xua đi cái nắng hè oi bức. Nón là vật bất li thân với các bà, các chị. Nón theo người nông dân ra đồng. Những cô thiếu nữ mặc áo dài trắng đội nón lá bước đi trên phố làm bao ánh mắt phải ngước nhìn chính là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Nón còn có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần của người dân Việt. Nón đi vào những câu ca dao, điệu hò, nón trở thành đạo cụ để biểu diễn nghệ thuật. Những màn múa nón duyên dáng trên sân khấu luôn khiến người xem không thể rời mắt. Trong những đám cưới truyền thống, nón là vật mà mẹ chồng trao cho con dâu, luôn chứa đựng biết bao tình cảm.
Nón cũng có nhiều loại. Có thể kể đến nón ngựa hay nón Gò Găng ở Bình Định, nón quai thao gắn với những câu hò của liền anh, liền chị trong ngày hội, nón bài thơ nổi tiếng của Huế là loại nón trắng và mỏng, có in một vài câu thơ trên nón, nón thúng tròn bầu giống cái thúng, ta vẫn hay gọi là “nón thúng quai thao”. Tuy nhiên, thông dụng hơn cả vẫn là nón hình chóp. Giá một chiếc nón trên thị trường hiện nay khoảng từ vài chục đến vài trăm nghìn đồng.
Trải qua bao năm tháng, ở nước ta hiện nay vẫn còn một số làng nghề làm nón nổi tiếng như: làng Chuông (Hà Tây), làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy), đặc biệt là làng nón Phủ Cam (Huế). Những làng nghề này ngoài sản xuất ra những chiếc nón công phu còn là nơi thu hút khách du lịch đến thăm và trải nghiệm thử những công đoạn làm nón.
Từ lâu, nón đã không chỉ là một người bạn gần gũi mà còn trở thành một nét đẹp trong văn hóa của người Việt Nam. Nhìn thấy hình ảnh chiếc nón lá, ta như thấy cả tâm hồn của người Việt, những con người chất phác, hiền lành, đôn hậu
HỌC TỐT !!!
Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.
Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆTLớp 8 - Năm thứ ba ở cấp trung học cơ sở, học tập bắt đầu nặng dần, sang năm lại là năm cuối cấp áp lực lớn dần nhưng các em vẫn phải chú ý sức khỏe nhé!
Nguồn : ADMIN :))Xem thêm tại https://loigiaisgk.com/cau-hoi or https://giaibtsgk.com/cau-hoi
Copyright © 2021 HOCTAPSGK