Download.vn Học tập Lớp 10 Văn 10
Văn mẫu lớp 10: Phân tích 8 câu cuối bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
2 Dàn ý & 5 bài văn mẫu lớp 10
Phân tích 8 câu cuối bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ để thấy được tình cảnh éo le của người phụ nữ phải sống trong cô đơn, buồn khổ, trong thời gian đợi chồng đi đánh giặc trở về. 8 câu thơ cuối thể hiện nỗi nhớ và khát khao lứa đôi bỗng trào dâng trong lòng người chinh phụ và trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 8 câu cuối gồm dàn ý và 5 bài văn mẫu hay đạt điểm cao của các bạn học sinh giỏi. Thông qua đó các bạn lớp 10 có thêm nhiều gợi ý tham khảo, trau dồi vốn kiến thức, từ đó biết cách viết văn ngày một hay hơn.
Phân tích 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Dàn ý Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 8 câu cuối
Dàn ý 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 8 câu cuối - Mẫu 1
Phân tích 8 câu cuối bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ - Mẫu 2
Phân tích 8 câu cuối bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ - Mẫu 3
Phân tích 8 câu cuối bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ - Mẫu 4
Phân tích 8 câu cuối bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ - Mẫu 5
Dàn ý Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 8 câu cuối
a) Mở bài
- Giới thiệu tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm:
Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh năm mất) sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, là người có cống hiến to lớn đối với nền văn học Việt Nam.
Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748) là người có công với nền văn học quốc âm, một nữ sĩ nổi tiếng với nhiều giai thoại về khả năng xuất khẩu tài tình.
- Giới thiệu tác phẩm và đoạn trích:
Chinh phụ ngâm là tác phẩm văn vần của Đặng Trần Côn, ra đời trong khoảng năm 1741 giai đoạn sơ kỳ Cảnh Hưng và về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích từ câu 193 đến câu 220 của tác phẩm Chinh phụ ngâm, trong đó 8 câu thơ cuối đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của toàn bộ tác phẩm.
b) Thân bài
* Khái quát về đoạn trích
- Hoàn cảnh sáng tác: Đầu đời vua Lê Hiền Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đánh dẹp. Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.
- Giá trị nội dung: Đoạn trích miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
* Phân tích 8 câu thơ cuối
Luận điểm 1: Ước muốn của người chinh phụ
- Hình ảnh thiên nhiên:
Gió đông: gió mùa xuân mang theo hơi ấm và sự sống, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.
Non Yên: Điển tích chỉ núi Yên Nhiên, nơi biên ải phương bắc xa xôi - nơi người chồng đang chinh chiến.
“Nghìn vàng”: Hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng của người chinh phụ (buồn tủi, cô đơn, lo lắng, trống vắng, hi vọng rồi lại thất vọng)
-> Ước muốn của người chinh phụ gửi gắm niềm hi vọng, thương nhớ vào ngọn gió xuân mang đến nơi chiến trường xa xôi để người chinh phu thấu hiểu và trở về cùng nàng.
=> Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.
Luận điểm 2: Nỗi nhớ của người chinh phụ
- Không gian:
“Non yên - non yên, trời - trời” -> thủ pháp điệp liên hoàn nhấn mạnh khoảng cách xa xôi, trắc trở không gì có thể khỏa lấp nỗi nhớ vời vợi, đau đáu trong lòng người chinh phụ.
“thăm thẳm, đau đáu” : từ láy cực tả cung bậc của nỗi nhớ, thăm thẳm là nỗi nhớ sâu, dai dẳng, triền miên, đáu đáu là nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu. -> Nỗi nhớ triền miên trong thời gian vô tận được cụ thể hóa bằng không gian xa vời, khắc họa nỗi nhớ khắc khoải dằng dặc.
“Đường lên bằng trời”: Xa vời dường như không có điểm cuối
=> Nhấn mạnh sự xa cách trùng khơi của người chinh phụ, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ mỗi lúc một tăng tiến, dồn nén trở thành nỗi đau xót xa.
Luận điểm 3: Mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh
- “Cảnh buồn”, “người thiết tha lòng”: Cảnh và người đều gặp nhau ở nỗi buồn và niềm đau
- Cảnh vốn là vật vô tri nhưng tâm trạng của con người đã nhuốm sầu cảnh vật.
“Cành cây sương đượm”: Gợi sự buốt giá, lạnh lẽo
“Tiếng trùng mưa phun”: Sự ảo não, hoang vắng, nghe được cả tiếng côn trùng kêu rả rích.
=> Tâm trạng cô đơn, thổn thức, nỗi nhớ thương, khát khao được đồng cảm nhưng vô vọng, người chinh phụ đã hướng nỗi buồn ra ngoài cảnh vật khiến nó cũng trở nên não nề.
* Đặc sắc nghệ thuật:
Sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp liên hoàn, từ láy
Thủ pháp tả cảnh ngụ tình
Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế
Hình ảnh ước lệ
Giọng điệu da diết, buồn thương
c) Kết bài
Khái quát nội dung, nghệ thuật 8 câu thơ cuối: 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.
Liên hệ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính
Dàn ý 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
I. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ: Đặng Trần Côn là con người tài ba học giỏi và có tài văn chương. Đoạn trích này là một trong những đoạn hay và xúc động nhất của tác phẩm chinh phụ ngâm
- Khái quát tâm trạng của người chinh phụ: Tâm trạng chủ đạo buồn sầu cô đơn nhung nhớ.
II. Thân bài
a. Làm rõ niềm thương nhớ chồng của người chinh phụ (8 câu cuối)
- Không gian:
“Gió Đông, non Yên”: Hình ảnh ước lệ gợi hình ảnh người vợ phải mượn ngọn gió Đông mới có thể truyền tải được nỗi nhớ chồng.
“Đường lên bằng trời”: Xa vời dường như không có điểm cuối
→ Nhấn mạnh sự xa cách trùng khơi của người chinh phụ, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ.
- Tính chất nỗi nhớ
“Thăm thẳm”: Gợi độ dài của thời gian, độ rộng của không gian, độ sâu của nỗi nhớ.
“Đau đáu”: Trạng thái không yên lòng, quan tâm nhớ nhung mong đợi day dứt không nguôi.
Nỗi nhớ triền miên trong thời gian vô tận được cụ thể hóa bằng không gian xa vơi, khắc họa nỗi nhớ khắc khoải dằng dặc.
- Tâm trạng:
"Cảnh buồn, thiết tha lòng”: Tả cảnh ngụ tình, cảnh buồn, lòng người đau xót, quặn thắt.
“Cành cây sương đượm”: Gợi sự buốt giá, lạnh lẽo
“Tiếng trùng mưa phun”: Sự ảo não, hoang vắng, nghe được cả tiếng côn trùng kêu rả rích.
→ Tâm trạng cô đơn, thổn thức, nỗi nhớ thương, khát khao được đồng cảm nhưng vô vọng.
- Nghệ thuật.
Từ láy gợi hình gợi cảm: thăm thẳm, đau đáu, thiết tha
Hình ảnh ước lệ: gió đông, non Yên.
So sánh: “đường lên bằng trời”
Điệp từ: “nhớ”, “gửi”, “thăm thẳm”
Điệp ngữ bắc cầu: “non Yên –non Yên”, “bằng trời - trời thăm thẳm”.
Tả cảnh ngụ tình: “Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”.
b. Thái độ của tác giả trước tâm trạng của người chinh phụ
- Thương xót, cảm thông trước tình cảnh cô đơn sầu muộn của người chinh phụ
- Ngợi ca tấm lòng thủy chung, khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.
- Lên án chiến tranh phong kiến đã gây ra cho con người bao đau khổ, mất mát
III. Kết bài
- Khái quát lại tâm trạng của người chinh phụ
- Thể hiện suy nghĩ của bản thân: Đồng cảm, thương xót cho người phụ nữ, trân trọng những vẻ đẹp phẩm chất của họ.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 8 câu cuối - Mẫu 1
Khác với giai đoạn đầu của văn học trung đại say sưa trong cảm hứng ca ngợi hùng tâm tráng chí của người anh hùng, ca ngợi những chiến công vĩ đại của cả dân tộc, thì đến những thế kỉ 18, 19 khi mà nhà nước phong kiến bắt đầu rơi vào khủng hoảng trầm trọng với sự diễn ra liên miên của các cuộc chiến tranh nội bộ, cướp đi sự bình yên của biết bao mái nhà, văn học lên ngôi và phát triển rực rỡ với cảm hứng nhân đạo, thay cho tiếng nói tha thiết về quyền sống của con người. Trong số đó phải kể đến “ Chinh phụ ngâm” của tác giả Đặng Trần Côn, được Đoàn Thị Điểm dịch lại.
Trong 8 câu cuối, ta thấy người chinh phụ đang cố vùng vẫy thoát ra khỏi nỗi buồn bao trùm cả không gian, thời gian, cả tâm hồn. Nàng đã tìm đến yếu tố ngoại cảnh làm cứu cánh. Nhưng ngoại cảnh chỉ là tiếng gà “eo óc” gáy, là “hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”, càng gợi sâu hơn vào nỗi lòng nhức nhối, nỗi cô đơn, trơ trọi của nàng trong cảnh “ bẽ bàng mây sớm đèn khuya”. Cuối cùng chỉ còn lại người chinh phụ với nỗi nhớ, nỗi sầu triền miên “ đằng đẵng” theo thời gian, “ dằng dặc theo thời gian’’. Tuy đã “ gượng” đốt hương, “ gượng” soi gương, “ gượng” gảy ngón đàn mà đến nỗi sợ “ hồn đà mê mải”,sợ” lệ lại châu chan”, sợi “ dây đứt phím chùng” mà đành ngậm ngùi trở về với bi kịch với nỗi cô đơn ngự trị trong tâm hồn mình.Trong đau buồn, cô đơn, nàng người chinh phụ khao khát gửi nỗi nhớ thương da diết trong lòng mình đến nghìn trùng xa xôi, đến nơi có người mình yêu thương.
“Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
Đó là tất cả sự toàn tâm toàn ý, tình cảm thủy chung, tròn đầy và vẹn nguyên nhất được bồi đắp bấy lâu của chinh phụ đều được gửi đến “ Non Yên” , để sẻ chia, cũng là để tâm sự nỗi lòng mình, để thể hiện tình cảm, khao khát của mình đối với tình yêu. Non Yên, là một địa danh, có tên cụ thể nhưng không ai biết nó ở đâu, cách đây bao xa. Phải chăng đó chỉ là một hình ảnh tượng trưng cho sự xa xôi cách trở giữa hai con người, cho sự vô vọng của người chinh phụ, cho sự vô vọng của một tình cảm thủy chung, trọn vẹn được gửi đi mà chẳng thể nhận được hồi đáp.
Bạn có thể tham khảo các ý như sau:
- Mở đầu, bạn nên giới thiệu bản thân-ngọn gió đông, khái quát- nêu ra tác phẩm và người chinh phụ.
- Thân đoạn, vì bản thân đóng vai "ngọn gió đông", cho nên bạn nên viết như sau:
- Kết đoạn: Khái quát lại.
Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.
Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆTLớp 10 - Năm thứ nhất ở cấp trung học phổ thông, năm đầu tiên nên có nhiều bạn bè mới đến từ những nơi xa hơn vì ngôi trường mới lại mỗi lúc lại xa nhà mình hơn. Được biết bên ngoài kia là một thế giới mới to và nhiều điều thú vị, một trang mới đang chò đợi chúng ta.
Nguồn : ADMIN :))Xem thêm tại https://loigiaisgk.com/cau-hoi or https://giaibtsgk.com/cau-hoi
Copyright © 2021 HOCTAPSGK