- Nguyễn Du tên chữ Hán dịch là Tố Như
- Hiệu là Thanh Hiên
- Ông sinh ngày 03/01/1766
- Ông mất năm 1820.
- Nguyễn Du là nhà thơ tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam
- Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
- Sự nghiệp văn học của ông gồm những tác phẩm có giá trị, tiêu biểu như "Thanh Hiên thi tập", "Đoạn trường tân thanh",...
- Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên.
- Ông sinh ngày 3-1-1766 mất năm 1820.
- Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
- Cha là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, làm quan đến chức Tham tụng ( Tể tướng ) dưới triều Lê; mẹ là bà Trần Thị Tần quê ở Kinh Bắc - Bắc Ninh. Nguyễn Du ra đời trong một gia đình đại quý tộc, có thế lực vào bậc nhất đương thời.
- Năm 1767, khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công nên Nguyễn Du thời đó sống trong giàu sang phú quý.
- Năm 1774, cha Nguyễn Du sung chức tể tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Từ thời gian này Nguyễn Du chịu nhiều mất mát liền kề.
- Năm 1775, anh trai Nguyễn Trụ ( sinh năm 1757 ) qua đời.
- Năm 1776 thân phụ ông mất.
- Năm 1778, khi 12 tuổi, thân mẫu Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần mất. Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều ( sinh năm 1745 ) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Mới 13 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản ( hơn ông 31 tuổi )
- Năm 1780, Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học.
- Năm 1782, Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại kiêm trấn thủ Hưng Hóa, Thái Nguyên, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.
- Năm 1783 , Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường, sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Trước đây, một võ quan họ Hà ( không rõ tên ) ở Thái Nguyên , không có con nên đã nhận ông làm con nuôi. Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên.
- Năm 1786 , Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà .
- Năm 1789 , Nguyễn Huệ , một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn đã kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân Thanh sang tiến chiếm Đại Việt . Nguyễn Du cũng chạy theo vua Lê Chiêu Thống ( 1766-1793 ) nhưng không kịp, đành trở về quê vợ, quê ở Quỳnh Côi ở Thái Bình , sống nhờ nhà người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn.
Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An. Năm 1796 , nghe tin ở Gia Định , chúa Nguyễn Ánh ( 1762-1819 ) đang hoạt động mạnh, ông định vào theo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng. Trở về Tiên Điền ( Hà Tĩnh ), ông sống chật vật một thời gian dài cho đến mùa thu năm 1802 , khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long , thì ông được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn.
- Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung ( nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên ). Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín ( Hà Tây , nay thuộc Hà Nội ).
- Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau:
+ Năm 1803 : đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh , Trung Quốc .
+ Năm 1805 : thăng hàm Đông Các điện học sĩ.
+ Năm 1807 : làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương.
+ Năm 1809 : làm Cai bạ dinh Quảng Bình .
+ Năm 1813 : thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc.
+ Sau khi đi sứ về vào năm 1814 , ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.
- Năm 1820 , Gia Long mất, Minh Mạng ( 1791-1840 ) lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột ( trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ ) ở kinh đô Huế vào ngày 18 tháng 9 năm 1820 . Lúc đầu ( 1820 ), Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền , tỉnh Thừa Thiên . Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh).
- Các tác phẩm của Nguyễn Du:
+ Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành... nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện thơ.
+ Độc Tiểu Thanh ký.
+ Văn tế thập loại chúng sinh.
+ Long thành cầm giả ca.
+ Đối tửu.
+ Sở kiến hành.
+ Hồi 01.
+ Thôn dạ.
+ Khất thực.
+ Vọng Phu thạch.
+ Thác lời trai phường nón.
Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.
Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆTLớp 8 - Năm thứ ba ở cấp trung học cơ sở, học tập bắt đầu nặng dần, sang năm lại là năm cuối cấp áp lực lớn dần nhưng các em vẫn phải chú ý sức khỏe nhé!
Nguồn : ADMIN :))Xem thêm tại https://loigiaisgk.com/cau-hoi or https://giaibtsgk.com/cau-hoi
Copyright © 2021 HOCTAPSGK