Trang chủ Lịch Sử Lớp 7 Vì sao vua Lê chú ý đến bảo vệ để...

Vì sao vua Lê chú ý đến bảo vệ để điều câu hỏi 747864 - hoctapsgk.com

Câu hỏi :

Vì sao vua Lê chú ý đến bảo vệ để điều

Lời giải 1 :

Dù cách thức kiểm soát, hạn chế quyền lực chưa thật hoàn bị, nhưng có thể thấy, tư tưởng về quyền lực nhà nước phải thường xuyên bị giám sát ở tất cả các cấp, lĩnh vực trong quá trình tổ chức và hoạt động của nhà nước là một trong những tư tưởng có giá trị hiện đại nhất thời Lê Thánh Tông. Các nội dung thuộc tổ chức bộ máy nhà nước và áp dụng pháp luật phân tích trên đây đều ít nhiều thể hiện tư tưởng này.
Trước hết, là giá trị mang lại từ cách thức, mức độ giám sát nhà nước với cấp chính quyền địa phương cao nhất (đạo) và thấp nhất (xã) ở thời Lê Thánh Tông. Ở cấp đạo, chính quyền trung ương đã thiết lập một cơ quan giám sát - Ty ngự sử - do Ngự sử đài quản lý về đóng tại địa bàn đạo. Vị trí của Ty ngự sử ngang với các Ty của đạo, vận hành cùng quá trình vận hành của các ty, trực tiếp giám sát hoạt động của các ty và của cả đạo, nhưng độc lập với đạo ở tất cả các khâu, sau đó báo cáo trực tiếp kết quả giám sát lên cơ quan chủ quản trung ương, thậm chí trực tiếp lên nhà vua. Dễ nhận thấy ưu điểm đặc biệt của mô hình này là vừa đảm bảo được tính trực tiếp, vừa đảm bảo tính độc lập - những tiêu chí căn bản của hoạt động giám sát. Thiết chế giám sát độc đáo này là một trong những gợi ý không nhỏ cho chúng ta hôm nay, khi mà nâng cao chất lượng hoạt động giám sát quyền lực nhà nước đang trở thành một yêu cầu cấp bách trong đời sống pháp lý Việt Nam. Còn ở cấp xã, giám sát được đặt ra ở nhiều khâu, từ việc bầu xã trưởng đến các hoạt động cụ thể. Người đứng đầu cấp xã phải là người có tài đức, đáp ứng các yêu cầu của nhà nước, do nhân dân xã sở tại trực tiếp bầu nên, đồng thời phải được sự chuẩn y của chính quyền cấp trên. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, bộ máy chính quyền cấp xã còn phải chịu quy trình khảo hạch khắt khe theo định kỳ của nhà nước. So với cơ chế hiện nay, cách bầu ra người đứng đầu cấp đơn vị hành chính địa phương có mức độ gần dân nhất này mang nhiều điểm tiến bộ, đặc biệt đã phát huy được cao nhất tinh thần dân chủ, phản ánh đúng quy luật vận động và phát triển của xã hội: nhân dân phải là chủ thể trực tiếp lựa chọn ra người để mình ủy thác quyền lực, sẽ thay mình gánh vác các trọng trách chung, đảm bảo lợi ích chung của địa phương.
Thứ đến, là giá trị từ việc đề cao trách nhiệm của các chủ thể công quyền, gắn trách nhiệm công vụ với trách nhiệm pháp lý cá nhân. Hiếm thấy trong hệ thống pháp luật thực định nào, vấn đề trách nhiệm công vụ, trách nhiệm pháp lý cá nhân lại được đề cập mạnh mẽ như thời Lê Thánh Tông. Hầu hết trong những văn bản pháp luật quan trọng như bộ Quốc triều hình luật, bộ Quốc triều khám tụng điều lệ, các quy định liên quan đến trách nhiệm công vụ đều dự liệu kèm theo trách nhiệm pháp lý cá nhân của công chức thừa hành nếu vi phạm, thậm chí còn được nhấn mạnh như bộ phận chính của quy phạm pháp luật. Vấn đề trách nhiệm pháp lý liên đới cũng được chú trọng. Nếu so sánh sẽ thấy rằng, hiện nay ở nước ta, trách nhiệm đối với người áp dụng pháp luật thường được đặt ra chung chung, thiếu định lượng, như “Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân: Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân...”[23]  hay “…vi phạm…thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Đây là một điểm đáng để cho những nhà lập pháp hiện đại phải suy ngẫm.
Và cũng không thể không tính đến các tư tưởng khá gần gũi với minh bạch và liêm chính tư pháp thời Lê Thánh Tông. Có thể thấy, trong bộ Quốc triều khám tụng điều lệ thời Lê, hàng loạt quy định thể hiện yêu cầu nghiêm ngặt, kịp thời về các thủ tục tố tụng; yêu cầu bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo, những người liên quan ở hầu hết các giai đoạn tố tụng từ nộp đơn, khám nghiệm hiện trường, tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản… Bên cạnh đó, ở cả 31 lệ của Bộ luật, luôn hiện diện quy định về trách nhiệm, đạo đức công vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng liên quan. Những quy định này đã thể hiện tư tưởng vượt trước của các nhà lập pháp thời Lê trong việc nhận thức các nhóm nguy cơ, đó là: nguy cơ phải chịu rủi ro, oan ức của nhóm người yếu thế gồm bị cáo, bị can, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với nguy cơ lạm quyền, lộng quyền từ phía chủ thể tiến hành tố tụng - đại diện cho uy quyền và sức mạnh cưỡng chế của nhà nước luôn có thể xảy ra trong quá trình tố tụng.
Bên cạnh đó, yêu cầu thể hiện “luận đoán sai trái để các bên đều biết”[24] trong bản án chính là yêu cầu về phần lý lẽ - phần chứa đựng lập luận, phân tích, giải thích pháp luật cần thiết của thẩm phán, hội đồng xét xử trong bản án - đã chứng tỏ một tiến bộ vượt bậc về tố tụng trong đời sống pháp lý thời kỳ này. Bản án với các nội dung bắt buộc: phần luận cứ, phần lý lẽ, lập luận và phần phán quyết đã được các nhà lập pháp và áp dụng pháp luật thời Lê Thánh Tông thực hiện cách đây vài thế kỷ quả là điều hiếm thấy. Đặc biệt hơn, cơ chế xét xử theo lương tâm, sự tự quyết theo trái tim, theo công lý của người xét xử đã được đề cập và được đảm bảo như một trong những nguyên tắc của quá trình tố tụng. Đây là điều mà cho đến hiện nay, không phải mọi nền tư pháp hiện đại đều có thể đạt được.
Phải đặt các tư tưởng tiến bộ thể hiện tính minh bạch và liêm chính tư pháp (cách nay gần chục thế kỷ) thời Lê Thánh Tông trong bối cảnh ra đời và vận hành Hiến pháp năm 2013, bản Hiến pháp được đánh giá là bước đột phá trong việc chính thức hiến định cơ chế bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế trong tố tụng (người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án), đồng thời hiến định trách nhiệm pháp lý với những người vi phạm pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác (Điều 31 Hiến pháp năm 2013), mới thấy hết giá trị hiện đại của nó trong việc hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước. Những tư tưởng kiểm soát, hạn chế quyền lực nhà nước này thực sự là kinh nghiệm, nền tảng tư tưởng cho công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước Pháp quyền XHCN hiện nay ở Việt Nam./.

Thảo luận

Bạn có biết?

Lịch sử là môn khoa học nghiên cứu về quá khứ, đặc biệt là những sự kiện liên quan đến con người. Đây là thuật ngữ chung có liên quan đến các sự kiện trong quá khứ cũng như những ghi nhớ, phát hiện, thu thập, tổ chức, trình bày, giải thích và thông tin về những sự kiện này. Những học giả viết về lịch sử được gọi là nhà sử học. Các sự kiện xảy ra trước khi được ghi chép lại được coi là thời tiền sử.

Nguồn : Wikipedia - Bách khoa toàn thư

Tâm sự 7

Lớp 7 - Năm thứ hai ở cấp trung học cơ sở, một cuồng quay mới lại đến vẫn bước tiếp trên đường đời học sinh. Học tập vẫn là nhiệm vụ chính!

Nguồn : ADMIN :))

Liên hệ hợp tác hoặc quảng cáo: gmail

Điều khoản dịch vụ

Copyright © 2021 HOCTAPSGK