Nhớ rừng là bài thơ kiệt tác của Thế Lữ, nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới (1932 – 1941). Với nhạc điệu du dương, với cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ, đặc biệt với hình tượng con hổ, bài thơ Nhớ rừng đã chinh phục mỗi chúng ta, đã chiếm lĩnh nơi sâu kín nhất cõi tâm hồn bao người trong hơn nửa thế kỷ qua.
Thi pháp Nhớ rừng có kết cấu độc đáo, tạo hiệu ứng thẩm mỹ đặc biệt. Đó là sự đan cài hai không gian thẩm mỹ riêng biệt và tương phản, trái ngược nhau bằng cảm nhận của nhân vật trữ tình, ta – con hổ, trong tâm trạng nhớ rừng. Bởi nhớ rừng nên cảnh rừng được ngợi ca như là cái đẹp của tự do, phóng khoáng, mạnh mẽ, tung hoành. Theo đó, cảnh ở vườn bách thú bị đẩy vào đầu mút đối lập với cảnh rừng, là cảnh giả dối, tù túng, chật hẹp, quẩn quanh, ngột ngạt.
Kết cấu đó được tạo nên bởi hai mảng không gian trái ngược: Mảng thứ nhất là không gian rừng qua nỗi nhớ và tái hiện của nhân vật con hổ. Đó là không gian tự nhiên với những vẻ đẹp bản thể của nó trong sự phối kết giữa những sắc thái hoang dại mà hùng vĩ; phong phú, đa dạng, sinh động cả về âm thanh, đường nét, hình khối, sắc màu. Nỗi nhớ rừng xưa gọi về, tái hiện không gian đầy sức cuốn hút, hấp dẫn của tự do: Cảnh lâm sơn, bóng cả, cây già, tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, lá gai, cỏ sắc, đêm vàng bên bờ suối, mưa chuyển bốn phương ngàn, bình minh cây xanh nắng gội, chiều lênh láng máu sau rừng… Nổi bật lên trong mảng không gian này là chân dung, khí phách, tinh thần của nhân vật hổ:
Ta bước chân lên dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi,
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Một số thời gian có dấu ấn đặc biệt cũng được gọi về trong nỗi nhớ ngập tràn lòng tự hào và kiêu hãnh:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Mảng thứ hai là không gian nơi vườn bách thú, không gian của ngục tù, chật hẹp, tù túng, giả tạo, buồn chán và tẻ nhạt. Mảng không gian này được thể hiện bằng các chi tiết tiêu biểu: cũi sắt, hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng, dải nước đen chẳng thông dòng, là hiền lành không bí hiểm; đối lập và trái ngược với mảng không gian thứ nhất bởi không gian của rừng già là mênh mông, hoang sơ, hùng vĩ, tươi đẹp, thì không gian này gò bó, chật hẹp; không gian rừng là tự do, phóng khoáng thì không gian này là tầm thường, giả dối:
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, thâm u.
Trong mảng không gian của hiện tại này, ta cũng xuất hiện, nhưng trong tâm thế uất hận gậm một khối căm hờn trong cũi sắt, trái ngược với ngày xưa tung hoành, hống hách, dõng dạc, đường hoàng… Xuyên suốt trong hai mảng không gian địa lý ấy là mạch không gian tâm trạng và mỹ cảm của nhân vật ta. Trong kiểu không gian này, nhân vật ta tự kể, tự miêu tả, tự bộc lộ cảm xúc. Do vậy, bên cạnh bức tranh thiên nhiên trong hai mảng không gian trái ngược nhau, còn có chân dung tự họa của nhân vật trữ tình. Chính tính tư tưởng và thẩm mỹ của bài thơ phần lớn được bộc lộ trong những dáng nét của không gian tâm trạng và mỹ cảm của nhân vật trữ tình.
Phối kết với không gian là thời gian của quá khứ và hiện tại. Thời gian của quá khứ là huy hoàng, tự hào, hạnh phúc, viên mãn; thời gian của hiện tại là uất ức, nhạt nhẽo, buồn tẻ, vô vị. Nhiều kiểu câu được lặp lại cấu trúc, trong có những từ ngữ chỉ thời gian như nào đâu, đâu những…, được day đi day lại; những câu hỏi tu từ như những vết xoáy nỗi đau vừa để ngợi ca, tiếc nhớ ngày xưa, vừa để phủ nhận thực tại.
Thi pháp giọng điệu và ngôn từ của Nhớ rừng cũng là những phương diện thể hiện sự sáng tạo của tác giả, tạo ấn tượng tốt tới độc giả và góp phần quan trọng trong việc diễn tả thái độ, tình cảm và tư tưởng. Giọng điệu thơ vừa hùng hồn, khảng khái vừa buồn hận, sầu thương. Trong những kí ức về ngày xưa thì nhịp thơ nhanh, mạnh; với bây giờ thì chậm, buồn.
Ngôn từ thơ là cả những lớp sóng liên tiếp, dồn dập mang xúc cảm của nhân vật trữ tình đang dâng tràn cả ở hai thái cực đối lập trong quá khứ huy hoàng, kiêu hãnh, tự do và hạnh phúc, với hiện tại ngục tù, gò bó, chật hẹp, giả dối và buồn chán. Toàn bộ hệ thống ngôn từ của bài thơ là ngôn từ của nhân vật, nhân vật ta.
Tóm lại, với cái nhìn hướng về cõi rừng ngày xưa trong nỗi nhớ thương những vẻ đẹp và sức hấp dẫn của nó, tương phản với cảnh nơi vườn bách thú, thi pháp kết cấu của Nhớ rừng được xây dựng thành hai mảng đối lập nhau về tình điệu thẩm mỹ. Theo đó, giọng điệu, ngôn từ cũng mang hai dòng chính là vừa hào sảng, hùng tráng vừa uất hận, buồn thương, tương ứng với hai mảng không gian và thời gian nghệ thuật của ngày xưa với bây giờ, nơi rừng sâu núi thẳm với chốn vườn bách thú. Nhớ rừng là bài ca về tự do, về giá trị đích thực của cuộc sống; là sự phê phán, phủ nhận cuộc sống nô lệ, tầm thường và giả dối.
Có lẽ sẽ không là kiên cưỡng nếu nói rằng Nhớ rừng, với hình tượng con hổ nằm dài ấy, đã tạo nên tư thế của những con người đã thôi nghĩ đến hành động, những con người mà nhiệt tình làm cách mạng, mà hoài bão muốn góp phần mình vào sự đổi thay đã không còn.
Thế nhưng, con hổ, hình tượng trung tâm của bài thơ, dù có chịu mất tự do nhưng vẫn không chịu mất đi niềm kiêu hãnh. Trong khổ đau, trong cảnh tù hãm, trong nỗi nhọc nhằn, nó vẫn biết tự phân biệt mình với những kẻ đã bị hoàn cảnh tầm thường đồng hóa đến cả tinh thần. Ở đây, vấn đề không phải là xem xét “tác phong quần chúng” của con hổ, phê bình nó “không có chút ưu ái gì đối với những con vật như những con gấu, con báo cùng số phận như nó và nằm sát ngay cạnh chuồng nó”, như ai đó đã bàn. Ở đây, cũng như ở Chim trong lồng, ở cả Prô-mê-tê bị xiềng và Hăm-lét nữa, sự đối lập giữa hai hạng người, hai cách sống là cách thức nghệ thuật vẫn thường dùng để làm nổi bật lên cái kích thước cao cả và tô đậm thêm cảm hứng đầy tính bi kịch của một tâm hồn thà bị khổ đau chứ nhất quyết không chịu hạ mình trong bất hạnh.
Thế Lữ ít nhất là một lần trong một đời thơ, đã cố gắng xây dựng cho mình một hình tượng thơ như thế. Con hổ ở Nhớ rừng biết mình chiến bại nhưng vẫn chưa chịu làm tôi tớ cho sự tầm thường, giả dối của cảnh ngục tù. Nó bất lực, nhưng không hoàn toàn khuất phục và thỏa hiệp. Nó vẫn ghét những cảnh không đời nào thay dổi, nghĩa là còn ước ao những sự đổi thay. Bị giam thân trong lồng sắt chật, nó vẫn thiết tha vươn tới những chân trời rộng rãi của không gian với giấc mộng ngàn to lớn và của thời gian, với niềm uất hận ngàn thâu. Bài thơ, cho tới cùng, vẫn thể hiện một tinh thần chối từ thực tại, dẫu mới chỉ là sự chối từ trong mộng tưởng mà thôi.
Sự xung đột, chống đối quyết liệt, thường xuyên, không thể dung hòa giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại vật với nội tâm, giữa thấp hèn và cao thượng chính là cơ sở để kết cấu nên toàn bộ bài thơ. Có cảm giác như nghe được từ Nhớ rừng một bản xô – nát bốn chương với sự luân chuyển, đan xen của hai nhạc đề tương phản, trong đó, chủ đề chính, chủ đề nhớ rừng bỗng đột ngột chuyển vút lên sau những nốt nhạc đã ngày càng chậm chạp, buồn nản ở chương đầu, và cứ vang to mãi, dào dạt mãi, dâng mãi đến cao trào với tất cả niềm phấn hứng của tâm linh để rồi chợt tắt lặng đi nặng nề, uất nghẹn. Và cuối cùng, trong sự quật khởi, chủ đề chính lại quay trở lại, không còn hùng tráng được như trên, nhưng thiết tha, nhưng nuối tiếc. Bài thơ kết thúc trong tiếng gọi bi thiết với rừng già của một kẻ biết mình đã sắp phải chấm dứt cuộc vượt tù trong tâm tưởng. Như thế bằng việc luôn luôn chuyên đổi tình cảm và giọng điệu thơ sang phía đối lập của nó, nhà thơ đã tìm đúng cái cách hữu hiệu để diễn tả hết các cung bậc cảm xúc của một tâm trạng cô đơn và đầy day dứt.
Bởi vì không có gì khiến người ta tin ở Thơ mới hơn là đọc những bài Thơ mới hay. Mà thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh. Đọc những câu như:
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng.
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Đọc những câu thơ ấy, không ai còn có quyền có những nhận định hay cách hiểu khác trước cuộc cách mệnh về thi ca đương nổi ấy. Cho đến những bài thất ngôn, ngũ ngôn, lục bát, song thất lục bát của Thế Lữ cũng khác hẳn xưa. Thế Lữ đã làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch. Chữ dùng lại rất táo bạo. Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được.
Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.
Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆTLớp 8 - Năm thứ ba ở cấp trung học cơ sở, học tập bắt đầu nặng dần, sang năm lại là năm cuối cấp áp lực lớn dần nhưng các em vẫn phải chú ý sức khỏe nhé!
Nguồn : ADMIN :))Xem thêm tại https://loigiaisgk.com/cau-hoi or https://giaibtsgk.com/cau-hoi
Copyright © 2021 HOCTAPSGK